Đầu tư lò nung vôi công nghiệp công nghệ mới tỷ lệ đạt thành phẩm 98%

11:07 |
Đầu tư lò nung vôi công nghiệp công nghệ mới tỷ lệ đạt thành phẩm 98%


Công trường xây dựng lò nung vôi
Trong giai đoạn phát triển kinh tế tiếp theo của Việt Nam, vôi công nghiệp là một sản phẩm thiết yếu, quan trọng, hỗ trợ cho các ngành công nghiệp khác phát triển. Ngay từ thời cổ đại, được sử dụng trong ngành công nghiệp xây dựng. Ngoài ra, vôi cũng được sử dụng rộng rãi trong tinh chế kim loại, đặc biệt là thép chế tạo, trong nông nghiệp, trong ngành công nghiệp thực phẩm, và trong sản xuất xi măng. Trong thực tế vôi là một trong những hóa chất được sử dụng rộng rãi nhất. Hiện nay, vôi công nghiệp được sử dụng trong hầu hết ngành sản xuất. Người ta sử dụng đá vôi nghiền nát trong các mỏ than để làm giảm bụi than, do đó giảm nguy cơ nổ.

Trong nông nghiệp, phân bón vôi được sử dụng để nâng cao độ pH của đất, nâng cao hàm lượng canxi và magiê, đẩy mạnh hoạt động vi sinh, tăng tỷ lệ phát hành từ đất của vật chất hữu cơ và các yếu tố dinh dưỡng. Trong nhôm công nghiệp, vôi giúp loại bỏ silica từ quặng bauxite trong khi sản xuất alumina. Đơi với ngành công nghiệp xây dựng: Vôi được sử dụng trong sản xuất gạch vôi silic, cách điện và vật liệu xây dựng. Vôi cũng được sử dụng trong vữa đặt gạch và làm cho các bức tường. Ngoài ra, vôi cũng được thêm vào bê tông và vữa để cải thiện hiệu suất của ccông trình xây dựng.

Vôi loại 2
Ngoài ra, vôi phản ứng với nước đường thô cho sản xuất của cả hai và củ cải đường mía. Vôi là một thành phần trong baking soda và giúp giữ trái cây và rau tươi; Vôi trung hòa acid tạo ra chất thải trong ngành công nghiệp do đó cản trở sự ăn mòn và bảo vệ môi trường tự nhiên.. Vôi cũng loại bỏ silic, mangan, florua, sắt và các tạp chất khác trong nước.

Tại các nhà sản xuất giấy, bột giấy và giấy người ta sử dụng vôi để phục hồi soda ăn da trong quá trình chuyển đổi của các mẩu gỗ để bột giấy. Tẩy vôi bột giấy và cũng tan thành phần không cellulose từ rơm rạ và phân hủy nó xơ trong khi sản xuất strawboard và bàn nhồi bột.

Đặc biệt vôi có vai trò quan trọng trong kiểm soát ô nhiễm, xử lý nước. Vôi và đá vôi được sử dụng để hấp thụ lưu huỳnh dioxide từ khí thải trong smelters và các nhà máy phát điện. Vôi làm giảm ô nhiễm bằng cách loại bỏ các chất hữu cơ, phốt phát và nitơ từ nước thải. Nó ngăn ngừa trên thảm thực vật trong suối, hồ, kiểm soát mùi hôi từ các ao thải và kết tủa kim loại nặng. Vôi xử lý nước công nghiệp vật tư, sạch, bao gồm cả nước uống cho các thành phố và nước xử lý được sử dụng trong công nghiệp.. Nó làm mềm nước bằng cách loại bỏ độ cứng bicarbonate và tẩy uế chống lại vi khuẩn.

Thành phẩm đóng bao
Vôi cũng là vật liệu không thể thiếu trong ngành công nghiệp sản xuất thép. Vôi được sử dụng như là một thông lượng cho thép thanh lọc và loại bỏ, lưu huỳnh và silic tạp chất phốt pho. Vôi bôi trơn thanh thép khi chúng được rút ra thông qua khuôn để tạo thành dây. Tạo một một lớp phủ, vôi ngăn cản phôi bám vào các khuôn trong quá trình đúc gang. Vôi trung hòa axit tẩy vết cho những sản phẩm thép.

Nhu cầu tiêu thụ vôi công nghiệp tăng cao, các nhà đầu tư lò nung vôi công nghiệp đầu tư không bài bản, giá trị đầu tư thấp, lắp bắt công nghệ chưa hoàn toàn đi vào chiều sâu, thành phẩm đầu ra vôi chỉ đạt 80-90%, vì vậy giá trị kinh tế thấp giá bán vôi thành phẩm chỉ từ 1 triệu đồng 1 tấn vôi, trong khi đó công nghệ lò nung vôi hiện đại đầu tư bài bản thì vôi thành phẩm đạt 95-98% giá vôi thành phẩm đạt 1.9-2.2 triệu / 1 tấn khi suất khẩu .
Việc các nhà đầu tư xây dựng ồ ạt chưa lường trước được.


Vôi sống 

Quý khách tham khảo thiết bị Công ty Cung cấp:
1. Robot xếp gạch ( Robot gắp gạch ) tự động lê goong thay thế lao động 
2. Robot xếp hàng (robot xếp bao bì) (robot gắp hàng) lên pallet tự động
3. Đầu đùn ép gạch (đâu đùn gạch) công nghệ bán khô
4. Bông treo trần lò nung tuynel cách nhiệt giảm trọng lượng lò nung
7. Dây chuyền sản xuất đá thạch anh nhân tạo

Read more…

Tác động đến môi trường trong lò nung gạch tuynel sử dụng than hóa thạch làm nhiên liệu đốt

21:51 |
Tác động đến môi trường trong lò nung gạch tuynel sử dụng than hóa thạch làm nhiên liệu đốt

Trên cơ sở khảo sát, nghiên cứu qui trình công nghệ sản xuất gạch nhà máy gạch tuynel từ thực tiễn hoạt động sản xuất của nhà máy, nghiên cứu đánh giá tác động môi trường cho nhà máy sẽ là cơ sở lưu ý khi cải tạo và nâng cấp nhà máy sản xuất gạch tuynel công nghệ trần phằng hoặc lò nung di động, tính toán mức độ và phạm vi tác động đến các yếu tố môi trường do hoạt động sản xuất gây nên để có biện pháp giảm lượng khí thải gây ô nhiễm môi trường:
+ Tác động đến chất lượng môi trường không khí,
+ Tác động đến môi trường nước khu vực ,
+ Tác động do chất thải rắn gây ra,
+ Tác động đến các yếu tố kinh tế, xã hội,
+ Rủi ro và sự cố môi trường có thể xẩy ra.
Do chủ đầu tư sẽ trang bị những máy móc, trang thiết bị sản xuất hiện đại, cộng nghệ sản xuất tiên tiến nên sẽ các tác động môi trường nói chung sẽ giảm đi đáng kể. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động sản xuất vẫn không tránh khỏi các tác động sau đây:

Tác động đến chất lượng môi trường không khí
Các công đoạn sản xuất gạch được thực hiện trong cùng một khu vực và là dây chuyền sản xuất liên tục. Đất được lấy từ kho chuyển lên băng tải, trải qua các công đoạn nghiền, sàng lọc, nhào trộn, nhào đùn liên hợp… cho đến sản phẩm cuối cùng là gạch mộc và qua hầm sấy nung trở thành gạch thương phẩm.

Các nguồn và các chất gây tác động đến môi trường không khí trong quá trình hoạt động sản xuất gồm:

 Ô nhiễm do bụi:
*. Nguồn phát sinh:
Bụi phát sinh từ các công đoạn: cấp liệu thùng, công đoạn nghiền, máy ủi, công đoạn cán thô, công đoạn cán mịn, công đoạn cắt gạch, nghiền than, lò nung, hầm sấy, công đoạn rải than lên băng tải 1…
*. Đối tượng chịu tác động:
+ Các đối tượng chịu tác động chủ yếu là cán bộ công nhân viên trong Nhà máy và một số hộ dân sống gần nhà máy.
+ Quy mô bị tác động: Cán bộ công nhân viên của Nhà máy gạch Tuynel thường xuyên làm việc trong nhà máy cũng như các hộ dân xung quanh khu vực nhà máy.
*. Đánh giá tác động:
Có thể thấy hàm lượng bụi lớn nhất phát sinh trong nhà máy là bụi than từ kho chứa than và công tác rải than lên băng tải 1 trước khi nguyên liệu được đưa vào máy cán thô. Tuy nhiên, do than trộn vào nguyên liệu sản xuất gạch là loại than qua lửa được lấy từ nhà máy Nhiệt điện Phả Lại, nhà máy nhiệt điện Uông Bí nên hàm lượng bụi cũng giảm đi rất nhiều và không có các tác động lớn đến môi trường xung quanh. Ngoài ra công đoạn vận chuyển gạch lên goòng đưa vào hầm sấy, rồi vận chuyển gạch lên xe cũng gây ra ô nhiễm bụi nhưng lượng ô nhiễm không đáng kể.
– Bụi có thành phần chính là các loại nguyên liệu được sử dụng trong nhà máy gồm đất và than các loại. Trong trường hợp không có hệ thống thu gom và xử lý thì lượng bụi phát sinh như sau:
Bụi nguyên liệu: Lượng phát thải tạm tính bằng tỷ lệ 0.17% (tương đương bụi phát sinh khi đào đắp một khối lượng đất đá tương tự).
Khối lượng đất nguyên liệu sử dụng 1.439m3/10 ngày (tính toán cho công suất thiết kế là 40 triệu viên/năm). Với tỷ trọng 1,5 tấn/m3 thì khối lượng đất sử dụng cho một ngày là 1,5×1.439/10 = 215,85 tấn; lượng bụi sinh ra hàng ngày là: 215,85 tấn x 0.17%= 0,37 tấn.
Từ năm thứ 2 trở đi công suất của nhà máy sẽ tăng lên 80 triệu viên/năm nên lượng ô nhiễm cũng tăng theo.
• Bụi than: với khối lượng than tiêu thụ khoảng 8.100 tấn/năm (tính toán cho công suất thiết kế là 40 triệu viên/năm), tính toán theo phần mềm SPC (sản phẩm cháy) của giáo sư Trần Ngọc Chấn, lượng bụi có thể phát sinh mỗi ngày là 24kg/ngày.
Bụi phát sinh trong ống khói của lò nung không phát tán ra ngoài mà được lắng đọng ở phần đáy của lò, hàm lượng không cao và sẽ được công nhân nhà máy lạo vét định kỳ hàng năm.
 Ô nhiễm do khí thải nhà máy gạch
*. Khí thải sản xuất:
– Nguồn phát sinh:
Phát sinh từ các quá trình đốt nhiên liệu khí than hoá, các loại khí thải phát sinh từ khu vực lò nung và hầm sấy, một phần từ kho lưu trữ than của nhà máy.
– Đối tượng chịu tác động:
Chủ yếu là những người cán bộ, công nhân trực tiếp làm việc trong khu vực nhà máy. Một số hệ sinh thái vườn, ruộng và hộ dân xung quanh khu vực xuôi hướng gió của nhà máy.
– Đánh giá tác động:
Thành phần của khí thải trong giai đoạn này chủ yếu là CO2, SO2, NOx, HC, và hơi nước do đã chuyển hoá phần lớn trong quá trình chế biến khí than và quá trình đốt trong lò nung và hầm sấy.

Các loại khí thải SO2, NO2, CO, HC, khói và nhiệt… phát sinh từ khu vực lò nung gạch, hầm sấy, và một phần phát sinh trong khu vực kho than.

Tuy nhiên, lò nung và hầm sấy đều được chủ đầu tư thiết kế hiện đại tiên tiến theo kiểu lò nung cải tiến kéo dài cho phép độ chênh lệch nhiệt độ trên mặt cắt ngang của lò ở mức độ thấp nhất, sản phẩm ra lò đạt chất lượng đồng đều tại mọi vị trí trên xe goòng đặc biệt là sản phẩm thành móng chất lượng cao. Hầm sấy Tuynel được chủ đầu tư thiết kế trên cơ sở tận dụng tối đa khí nóng từ vùng làm nguội và khí thải của lò nung thông qua quạt có công suất 3.500 – 4.500m3/h. Do đó, các loại khí thải, khói, bụi cũng như nhiệt đều được hạn chế rất nhiều nên những tác động do chúng gây ra có thể khắc phục được.

Hơn nữa, các loại khí thải trong hầm sấy và lò nung còn tồn tại cũng được đưa ra ngoài qua ống khói cao khoảng 35m. Các loại khí thải này được phát tán đi xa theo chiều gió và được pha loãng với không khí nên nồng độ giảm đi rất nhiều từ chân ống khói. Nhóm nghiên cứu nhận thấy các loại cây xanh của dân cư khu vực xung quanh nhà máy phát triển tốt sẽ rất có lợi cho việc làm giảm bụi và các loại khí thải. Do đó những ảnh hưởng đến môi trường không khí do nhà máy gây ra sẽ được hạn chế đáng kể.

Tuy nhiên vào những ngày trời nhiều mây, độ ẩm không khí cao có thể khói không phát tán được đi xa, các khí thải như SO2 có thể kết hợp với hơi nước trong không khí tạo thành mưa axit sẽ rất nguy hiểm cho chính thiết bị máy móc phục vụ sản xuất trong nhà máy và môi trường xung quanh. Hiểu rõ điều này, nhà máy sẽ có biện pháp giảm thiểu tới mức thấp nhất thiệt hại bằng cách sử dụng loại than tốt nên tình trạng trên sẽ được khắc phục. Nhà máy sẽ có các biện pháp xử lý triệt để nhằm hạn chế hoàn toàn tác động của bụi và khí thải.

Than dùng cho sản xuất: hầu hết nhà máy sử dụng than bột chất lượng cao với hàm lượng lưu huỳnh <0,5% có nguồn gốc từ mỏ than Quảng Ninh. Theo ước tính của nhà máy lượng than được trộn với đất bằng máy rải than tại băng tải 1 để sản xuất gạch với lượng pha than khoảng 80 -100kg/1000 viên gạch mộc tiêu chuẩn. Lượng than trộn với nguyên liệu trong gạch là than qua lửa có mục đích tiết kiệm than đốt trong lò và để gạch chín đều và bền đẹp, hạn chế phát sinh xỉ thải. Than qua lửa được lấy từ nhà máy Nhiệt điện Phả Lại, nhà máy nhiệt điện Uông Bí… bằng phương tiện vận tải đường bộ hoặc đường thuỷ. Vì vậy, sự ô nhiễm không khí bởi khí thải tại nhà máy gạch Tuynel Sài Gòn sẽ được giảm rất nhiều.

Tuy nhà máy có công nghệ tiên tiên đã giảm đáng kể lượng ô nhiễm do khí thải và bụi nhưng vẫn chưa hoàn toàn không còn ô nhiễm. Ta có thể tính toán nồng độ các chất khí thải từ ống khói của nhà máy dựa trên mô hình tính toán và dự báo trên máy tính.
Rất nhiều chương trình tính toán trên máy tính nhằm xác định nồng độ chất ô nhiễm trung bình theo thời gian ở các điểm cuối hướng gió so với nguồn thải.

Đối với Chi nhánh Nhà máy cổ phần sản xuất và thương mại Đại Thanh – Nhà máy gốm xây dựng Sài Gòn tại xã Ngọc Hòa, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang, các nguồn ô nhiễm được coi là nguồn điểm.

*. Ảnh hưởng của các loại khí gây ô nhiễm:

Nồng độ ô nhiễm khí thải trong lò nung gạch tuynel

Khí oxit cacbon:
Oxit cacbon có công thức hoá học là CO, là một chất khí không màu, không mùi, không vị, tạo ra do sự cháy không hoàn toàn của các nhiên liệu có chứa cacbon như xăng, dầu các loại, than…, có ái lực mạnh với hemoglobin và chiếm chỗ oxy trong máu gây thiếu oxy cho cơ thể con người. Tiếp xúc với khí CO có thể gây chóng mặt, đau đầu, buồn nôn, ngất và rối loạn nhịp tim. ở nồng độ CO cao (khoảng 250mg/m3) có thể gây tử vong. Người lao động nếu làm việc liên tục ở khu vực có nồng độ CO cao sẽ bị ngộ độc mãn tính, người thường xanh xao, gầy yếu. Giới hạn cho phép CO trong không khí khu vực sản xuất theo TC 3733/2002/BYT-QĐ là 20 mg/m3, vùng không khí xung quanh và khu dân cư TCVN 5937-2005 là 30 mg/m3.

Khí lưu huỳnh dioxit:
Khí lưu huỳnh dioxit hay SO2 là một chất khí kkhông màu, có vị cay, mùi khó chịu, gây kích thích mạnh, co giật cơ trơn, tăng tiết dịch, viêm và các chứng bệnh khác của đường hô hấp. Khi cháy, thành phần lưu huỳnh trong nhiên liệu phản ứng với oxy và tạo thành lưu huỳnh oxit, trong đó 99% là SO2 và 0,5-2% SO3. Ngoài ra nó còn gây rối loạn chuyển hoá prôtein và đường, gây thiếu vitamin B và C, ức chế enzym cholinesteraza. Tiếp xúc lâu dài với khí SO2 ở nồng độ cao có thể bị bệnh ở hệ tạo huyết vì khi đó hemoglobin tạo ra sẽ tăng cường quá trình oxy hoá Fe2+ thành Fe3+. Giới hạn cho phép khí SO2 trong không khí khu vực sản xuất theo TC 3733/2002/BYT-QĐ là 5 mg/m3, vùng không khí xung quanh và khu dân cư theo TCVN 5937 -2005 là 0,35 mg/m3.

Khí nitơ dioxit:
Khí NO2 được xem là hợp chất chủ yếu trong chuỗi phản ứng cực tím với hydrocacbon trong khí thải của máy móc tiêu thụ nhiên liệu dẫn đến hình thành muội khói có tính oxy hoá mạnh. Khí NO2 được biết đến như một chất gây kích thích viêm tấy và có tác động đến hệ thống hô hấp. Hiện nay khí NO2 ở nồng độ thường gặp trong thực tế có thể được xem là chất độc hại tiềm tàng gây bệnh viêm xơ phổi mãn tính, tuy nhiên chưa có số liệu định lượng về vấn đề này. Giới hạn cho phép khí NO2 trong không khí khu vực sản xuất TC 3733/2002/BYT-QĐ là 5 mg/m3, vùng không khí xung quanh và khu dân cư TCVN 5937-2005 là 0,2 mg/m3.

Đối với sức khoẻ:
SO2, NOx là các chất khí kích thích, khi tiếp xúc với niêm mạc ẩm ướt tạo thành các axít. SO2, NOx vào cơ thể qua đường hô hấp hoặc hoà tan vào nước bọt rồi vào đường tiêu hoá sau đó phân tán vào máu tuần hoàn. SO2, NOx khi kết hợp với bụi tạo thành các hạt bụi axít lơ lửng, nếu kích thước nhỏ hơn 2 – 3 micromét sẽ vào tới phế nang, bị đại thực bào phá huỷ hoặc đưa đến hệ thống bạch huyết. SO2 có thể nhiễm độc qua da gây sự chuyển hóa toan tính làm giảm dự trữ kiềm trong máu, đào thải amôniắc ra nước tiểu và kiềm ra nước bọt.

Đối với thực vật:
Các khí SO2, NOx khi bị ô xy hoá trong không khí và kết hợp với nước mưa tạo nên mưa axít gây tác hại xấu tới sự phát triển của cây trồng và thảm thực vật. Khi nồng độ SO2 trong không khí khoảng 1 – 2 ppm có thể gây chấn thương đối với lá cây sau vài giờ tiếp xúc. Đối với các loại thực vật nhậy cảm giới hạn gây độc kinh niên khoảng 0,15 – 0,30 ppm. Nhạy cảm nhất đối với SO2 là thực vật bậc thấp.

Đối với vật liệu:
Sự có mặt của CO, CO2, SO2, NOx trong không khí nóng ẩm làm tăng cường quá trình ăn mòn kim loại, phá huỷ vật liệu bê tông và các công trình xây dựng, nhà cửa.

Đối với khí hậu:
Các khí thải axít SO2, NOx có thể tạo nên các cơn mưa axít gây hại cho khu vực lân cận hay các vùng xa, ngoài ra khí NOx góp phần gây ảnh hưởng xấu tầng Ozôn… gây ảnh hưởng xấu tới khí hậu, hệ sinh thái cũng như sức khỏe con người.

Thống kê các tác hại bệnh lý chung của một số hợp chất khí độc hại đối với sức khoẻ con người: Chất khí ô nhiễm Tác dụng bệnh lý đối với người

1 Andehyt Gây buồn phiền, cáu gắt, làm ảnh hưởng đến bộ máy hô hấp.
2 Amoniac (NH¬3) Gây viêm tấy đường hô hấp
3 Asen hyđrua (AsH3¬) Làm giảm hồng cầu trong máu, tác hại thận, gây mắc bệnh vàng da.
4 Cacbon ôxít (CO) Làm giảm bớt khả năng lưu chuyển của ôxi trong máu, gây bệnh tim mạch và có thể gây tử vong.
5 Clo (Cl) Gây nguy hại toàn bộ đối với đường hô hấp và mắt.
6 Hydro xyanit Gây tác hại đối với tế bào thần kinh, đau đầu và làm khô họng, mờ mắt.
7 Hydro florua (HF) Gây mệt mỏi toàn thân, viêm da, gây bệnh về thận và xương.
8 Hydro sulfua (H2S) Giống mùi trứng thối, gây buồn nôn, tử vong do bệnh hô hấp
9 Nitơ oxít (NO) Gây bệnh phổi và bộ máy hô hấp, tử vong do bệnh hô hấp
10 Cacbon xyclorua Gây ho, buồn phiền, nguy hiểm đối với người bệnh phổi.
11 Sulfurơ Gây tức ngực, đau đầu, nôn mửa, tử vong do bệnh hô hấp.
12 Tro, muội, khói Gây bệnh khí thũng, đau mắt và có thể gây bệnh ung thư.
13 Bụi Gây viêm đường hô hấp, mắt…


Nguồn gây ô nhiễm nhiệt

– Nguồn phát sinh:
Sự truyền nhiệt do quá trình hoạt động từ các máy móc có công suất lớn.
Sự truyền nhiệt từ lò nung với lượng nhiệt là rất lớn tại các khâu nung, sấy, trong dây chuyền công nghệ như đã được thể hiện trên sơ đồ công nghệ.
– Đối tượng chịu tác động:
Công nhân trực tiếp tham gia sản xuất gạch và cán bộ trong khu vực nhà máy.
– Đánh giá tác động:
Lượng nhiệt toả vào không gian nhà xưởng làm nhiệt độ bên trong nhà xưởng tăng cao có thể chênh với nhiệt độ môi trường bên ngoài từ 3 – 500C, làm ảnh hưởng tới quá trình hô hấp của cơ thể con người tác động xấu tới sức khoẻ và năng suất lao động.
Tuy nhiên, lò nung và hầm sấy là một hệ thống kín. Nhiệt từ lò nung sẽ được dẫn sang hầm sấy bằng đường ống dẫn kín và hệ thống quạt hút nhiệt từ lò nung sang hầm sấy. Lượng nhiệt từ lò nung được sử dụng hoàn toàn để sấy chín gạch trong hầm sấy. Do đó lượng nhiệt phát sinh ra môi trường xung quanh là không đáng kể.

Khí thải từ máy phát điện dự phòng

Máy phát điện với công suất 200KVA được nhà máy sử dụng chạy hệ thống quạt khu vực lò nung, hầm sấy và dùng cho khu vực văn phòng khi mất điện tạm thời. Nhiên liệu sử dụng là dầu diezen (dầu DO).
Theo phương pháp đánh giá nhanh của WHO, tính tải lượng ô nhiễm sinh ra trong khí thải máy phát điện khi hoạt động và nồng độ ô nhiễm tương ứng theo các thông số đầu vào sau:
– Công suất máy phát : 200 KVA
– Lượng dầu tiêu thụ : 15,6 kg dầu/h
– Hàm lượng cacbon, hydro và lưu huỳnh trong dầu: 86,6%, 12,5%, 1,2%
– Lượng khí thải khi đốt 1 kg dầu ở điều kiện tiêu chuẩn và hệ số khí dư là 1,2:
– Lưu lượng khí thải : 474 Nm3/h
Tuy nhiên, việc mất điện rất ít xẩy ra, máy phát điện ít khi hoạt động nên ô nhiễm do máy phát điện gây ra không lớn và không thường xuyên.

Cho đến nay thì nhiều lò gạch rất quân tâm tới việc bảo vệ môi trường trong khâu nung đốt gạch, bằng công nghệ khử lưu huynh dùng dung dịch nước vôi trong để phun trực tiếp vào nược khí thải, các phản ứng hóa học được diễn ra nồng độ khí thải ra môi trường được giảm đi đáng kể từ 70-85% , do đó việc lắp đặt các hệ thống xử lý khói thải này là một vấn đề cấp bách và cần thiết hiện nay, khi các nhà máy đang trong giao đoạn cải tạo và nâng cấp lò nung gạch tuynel với nhiều kiểu lò khác nhau hiện nay như lò nung trần phẳng, lò di động, lò hoffman... cùng với đầu tư thiết bị máy móc hiện đại trong các khâu bốc xếp gạch mộc lên goong dung robot gắp gạch giảm được nhân công lao động hoặc dùng nguyên liệu đất đồi thay thế đất sét, pha trộn các nguyên liệu khác vào trong đất sét, cũng là các biện pháp làm giảm ô nhiễm môi trường trong sản xuất gạch nung, sẽ là công nghệ cần các nhà đầu tư hướng tới là mô hình cần nhân rộng để giảm thiệu tác động khí thải tới mô trường xung quanh.

Quý khách tham khảo thiết bị Công ty Cung cấp:
1. Robot xếp gạch ( Robot gắp gạch ) tự động lê goong thay thế lao động 
2. Robot xếp hàng (robot xếp bao bì) (robot gắp hàng) lên pallet tự động
3. Đầu đùn ép gạch (đâu đùn gạch) công nghệ bán khô
4. Bông treo trần lò nung tuynel cách nhiệt giảm trọng lượng lò nung
7. Dây chuyền sản xuất đá thạch anh nhân tạo
Read more…

Thành phần hóa học như thế nào trong các loại đất để sản xuất gạch nung

11:20 |
Thành phần hóa học của các loại đất như đất đỏ badan, đất cát, đất sét... như thế nào? có phù hợp để sản xuất gạch tuynel.

Một viên gạch tốt là nền tảng quan trọng giúp cho một công trình trở nên tốt và hoàn hảo hơn. Bởi lẽ đó nên việc lựa chọn nguyên liệu đất để sản xuất gạch cần được quan tâm thật kỹ lưỡng nhằm đảm bảo hiệu quả của công nghệ sản xuất gạch tuynel là tốt nhất. Tuy nhiên, nguyên liệu như thế nào mới là tối ưu nhất và tốt nhất để sản xuất gạch nung?

Các loại đất dao động trong một khoảng rộng về thành phần và cấu trúc theo từng khu vực. Các loại đất được hình thành thông quá quá trình phong hóa của các loại đá và sự phân hủy của các chất hữu cơ. Phong hóa là tác động của gió, mưa, băng, ánh nắng và các tiến trình sinh học trên các loại đá theo thời gian, các tác động này làm đá vỡ vụn ra thành các hạt nhỏ. Các thành phần khoáng chất và các chất hữu cơ xác định cấu trúc và các thuộc tính khác của các loại đất. 


Sản phẩm gạch mộc

Đất có thể chia ra thành hai lớp(hay tầng): tầng đất bề mặt, là lớp trên cùng nhất, ở đó phần lớn các loại rễ cây, vi sinh vật và các loại hình sự sống động vật khác cư trú và tầng đất cái, tầng này nằm sâu hơn và thông thường dày đặc và chặt hơn cũng như ít các chất hữu cơ hơn. 

Nước, không khí cũng là thành phần của phần lớn các loại đất. Không khí, nằm trong các khoảng không gian giữa các hạt đất, và nước, nằm trong các khoảng không gian cũng như bề mặt các hạt đất, chiếm khoảng một nửa thể tích của đất. Cả hai đều đóng vai trò quan trọng trong sự sinh trưởng của thực vật và các loại hình sự sống khác trong thiết diện đứng của đất trong một hệ sinh thái cụ thể. 

Căn cứ vào tỉ lệ các loại hạt (thành phần đá và khoáng chất) trong đất người ta chia đất ra làm 3 loại chính[cần dẫn nguồn]: đất cát, đất thịt và đất sét. Chúng có các tỉ lệ các hạt cát, limon và sét như sau: 

■Đất cát: 85% cát, 10% limon và 5% sét. 
■Đất thịt:45% cát, 40% limon và 15% sét. 
■Đất sét:25% cát, 30% limon và 45% sét. 
■Giữa các loại đất này còn có các loại đất trung gian.
Ví dụ : Đất pha cát, đất thịt nhẹ...  Các loại đất nguyên thủy bị chôn vùi dưới các hiệu ứng của các sinh vật được gọi là đất cổ. 

■Đất đỏ bazan có tính sét nghèo bazơ có cấu trúc viên, ít chặt và có độ xốp cao suất toàn phẫu diện, thành phần cơ giới nặng, tỷ lệ sét chiếm đến 45%, cát chỉ khoảng 30 - 35%. Mùn và đạm tổng số giàu (3 - 3,3% OM và 0,20% N). Lân tổng số giàu 0,25%, lân dễ tiêu thấp 5 - 10 mg/100g đất, ka li tổng số và lân dễ tiêu nghèo từ 0,5 - 0,6%, độ chua vừa đến ít chua. 

Thành Phần hóa học trong đất đỏ bazan

Các loại đất tiến hóa tự nhiên theo thời gian bởi các hoạt động của thực vật, động vật và phong hóa. Đất cũng chịu ảnh hưởng bởi các hoạt động sống của con người. Con người có thể cải tạo đất để làm cho nó thích hợp hơn đối với sự sinh trưởng của thực vật thông qua việc bổ sung các chất hữu cơ và phân bón tự nhiên hay tổng hợp, cũng như cải tạo tưới tiêu hay khả năng giữ nước của đất. Tuy nhiên, các hoạt động của con người cũng có thể làm thoái hóa đất bởi sự làm cạn kiệt các chất dinh dưỡng, ô nhiễm cũng như làm tăng sự xói mòn đất 

Phong hóa giải phóng các ion, chẳng hạn như kali (K+) và magiê (Mg2+) vào trong các dung dịch đất. Một số bị hấp thụ bởi thực vật, và phần còn lại có thể liên kết với các hợp phần đất (chất hữu cơ, khoáng sét) hoặc tồn tại tự do trong dung dịch đất. Cân bằng về hàm lượng các ion trong các hợp phần đất khác nhau là cân bằng động - bị chi phối bởi các quá trình trao đổi và hấp phụ cation, anion. Sự chuyển dịch cân bằng có thể xuất phát từ những thay đổi lý học, hóa học của đất. 

Cùng với quá trình chua hóa đất, các cation hấp thụ bởi khoáng sét có thể bị trao đổi (bởi H+) và bị rửa trôi. Ngoài ra, axit hóa đất cũng là một trong những nguyên nhân thúc đẩy quá trình phong hóa khoáng sét, giải phóng một số ion độc hại đối với thực vật Al3+ (Al3+ là một trong những thành phần chính cấu tạo nên các silicat của đất). Bón vôi (vôi bột hoặc vôi tôi) được coi là một trong những biện pháp hữu hiệu để cải tạo và ngăn chặn quá trình chúa hóa đất đai. 

Mặc dù các nguyên tố như nitơ, kali và phốtpho là cần thiết nhất để thực vật sinh trưởng có thể có rất nhiều trong đất, nhưng chỉ có một phần nhỏ của các nguyên tố này nằm ở dạng hóa học mà thực vật có thể hấp thụ được. Trong các quá trình như cố định đạm và hóa khoáng, các loại vi sinh vật chuyển hóa các dạng vô ích (chẳng hạn như NH4+) thành các dạng có ích (chẳng hạn NO3-) mà cây cối có khả năng sử dụng được. Các quá trình trao đổi, chuyển hóa, tương tác giữa thổ quyển (đất), thủy quyển (nước), khí quyển (không khí) và sinh quyển (quyển sống) thông qua các chu trình sinh địa hóa (chu trình nitơ và chu trình cacbon...) giúp cho vòng tuần hoàn của các nguyên tố này được khép kín. 

Các thành phần hữu cơ của đất có nguồn gốc từ các mảnh vụn thực vật (xác lá cây), các chất thải động vật (phân, nước tiểu, xác chết v.v) và các chất hữu cơ chưa phân hủy khác. Các chất này khi bị phân hủy, và tái tổ hợp tạo ra chất mùn, là một loại chất màu sẫm và giàu các chất dinh dưỡng. Về mặt hóa học, chất mùn bao gồm các phân tử rất lớn, bao gồm các este của các axít cacboxylic, các hợp chất của phenol, và các dẫn xuất của benzen. Thông qua quá trình khoáng hóa, các chất hữu cơ trong đất bị phân giải và cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết để thực vật phát triển. Các chất hữu cơ cũng đảm bảo độ xốp cần thiết cho việc giữ nước, khả năng tưới tiêu và quá trình ôxi hóa của đất. 

Khô hạn của đất sẽ thúc đẩy sự xâm nhập của ôxy không khí vào đất, đồng thời gia tăng quá trình oxy hóa đất và giảm hàm lượng chất hữu cơ đất. Mộtví dụ về điều này có thể xem ở các loại đất tại khu vực Everglades của Florida, ở đó người ta đã tưới tiêu cho nông nghiệp, chủ yếu trong sản xuất mía đường. Nguyên thủy, đất đai ở đây rất giàu các chất hữu cơ, nhưng quá trình ôxi hóa và sự nén đất đã dẫn tới sự phá hủy cấu trúc đất.

Thành phần hóa học viên gạch thành phẩm sau quá trình sản xuất và nung đốt như sau: 
  1. Silica (cát): 50% - 60%
  2. Alumina (sét): 20% - 30%
  3. Vôi: 2 - 5%
  4. Ôxít sắt: 5 - 6%, không được vượt quá 7%
  5. Magiê: dưới 1%

Hiện nay, khi sản xuất gạch tuynel từ nguyên liệu đất hoặc đất đồi hoặc pha trộn các loại đất khác nhau, với công nghệ máy móc hiện đại công ty Tân Phú đưa ra loại máy với công nghệ hiện đại nhất hiện nay với ưu thế vượt trội có lực ép lớn đưa công nghệ vào trong máy móc hỗ trợ máy đùn ép tốt nhất sử dụng nguyên liệu thép có độ cứng và chống mài mòn cao sử dụng 20.000.000 - 50.000.000 viên gạch mới phải thay thế ruột gà được bảo hành máy tới 3 năm. Sản phẩm mộc thành phẩm có độ ẩm thấp 18-19%, trọng lượng viên gạch tăng 3-7% so với viên gạch mộc cùng kích thước khi sử dụng đầu đùn gạch cũ.

Quý khách tham khảo thiết bị Công ty Cung cấp:
1. Robot xếp gạch ( Robot gắp gạch ) tự động lê goong thay thế lao động 
2. Robot xếp hàng (robot xếp bao bì) (robot gắp hàng) lên pallet tự động
3. Đầu đùn ép gạch (đâu đùn gạch) công nghệ bán khô
4. Bông treo trần lò nung tuynel cách nhiệt giảm trọng lượng lò nung
7. Dây chuyền sản xuất đá thạch anh nhân tạo
Read more…

Công nghệ lò tuynel trần phằng được cải tiến phù hợp với nhiều địa phương ở Việt Nam

11:45 |
Công nghệ lò tuynel trần phằng được cải tiến phù hợp với nhiều địa phương ở Việt Nam



Gạch tuynel được sản xuất bằng công nghệ lò tuynel trần phằng đang là sản phẩm vật liệu xây dựng được ưa chuộng nhất trên thị trường.

Theo nhận định của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực xây dựng thì dự kiến đến năm 2020, Việt Nam sẽ có nhu cầu sử dụng khoảng hơn 40 tỷ viên gạch cho các công trình xây dựng. Và để có thể đáp ứng cho nhu cầu này thì ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng cần phải có sự thay đổi cho phù hợp. Chính vì vậy mà trong quá trình chuyển đổi từ sản xuất gạch lò thủ công sang gạch lò gạch tuynel trần phẳng với công nghệ sản xuất có nhiều ưu điểm vượt trội thì các công ty đã lựa chọn công nghệ lò tuynel trần phẳng.

Quy trình sản xuất gạch tuynel bằng công nghệ lò tuynel trần phằng

Với việc sử dụng công nghệ lò tuynel trần phằng thì quy trình sản xuất gạch tuynel đã đạt được những hiệu quả kinh tế lớn nhất.

Bước 1 : Xử lý nguyên liệu
Nguyên liệu thích hợp nhất để làm gạch tuynel đặc hoặc gạch tuynel 2 lỗ : là đá phiến đất sét, đá mạch. Nguyên liệu sau khi được trộn với một tỷ lệ phù hợp sẽ được đưa vào băng tải để tiến hành nghiền thô, nghiền nhỏ và trộn đều. Hỗn hợp sau khi được trộn sẽ được đưa vào băng tải đưa tới khu lưu hóa.

Bước 2 : Thành hình và xếp gạch
Qua các công đoạn nhào trộn gạch sẽ qua đầu đùn gạch tuynel với công nghệ đầu đùn hút chân không với áp lực ép lớn sẽ cho ra sản phẩm gạch mộc đẹp và đồng đều,  được đưa qua máy cắt tự động để cắt gạch theo đúng chiều dài yêu cầu. Sau đó sẽ chuyển sang robot gắp gạch tự động

Bước 3 : Sấy và nung
Gạch sẽ được đưa vào sấy và nung trong một điều kiện nhiệt độ nhất định cho đến khi đạt yêu cầu thành phẩm

Bước 4 : Xếp dỡ gạch thành phẩm
Gạch sau khi được nung, sấy rồi làm nguội trong lò sẽ được đưa lên băng chuyền rồi xe nâng sẽ chất gạch lên xe hoặc chở gạch vào kho cất giữ.

Công nghệ lò tuynel trần phằng cải tiến phù hợp với nhiều địa phương ở Việt Nam

Công nghệ sản xuất gạch tuynel sử dụng công nghệ lò tuynel trần phằng có nguồn gốc từ Trung Quốc, được chuyển giao vào Việt Nam từ những năm 2010 .

Chi phí đầu tư sản xuất theo công nghệ lò tuynel trần phẳng không quá lớn, lại có thể tận dụng được nguyên liệu phế thải từ ngành nông lâm sản nên giúp cho các doanh nghiệp có thể thu hồi vốn nhanh. Ưu điểm của công nghệ này là sử dụng những chất đốt rẻ tiền, chi phí xây dựng không cao.


 Trên địa bàn một số các địa phương ở Việt Nam thì việc sử dụng công nghệ lò tuynel trần phằng là lựa chọn tối ưu cho quá trình sản xuất bởi không chỉ có công nghệ sản xuất gạch tuynel hoàn hảo mà công nghệ này còn có những cải tiến phù hợp với mức độ thân thiện và an toàn cho môi trường xung quanh.

Lựa chọn công nghệ lò tuynel trần phằng, bạn sẽ không cần phải băn khoăn về chất lượng sản phẩm được sản xuất đồng thời hoàn toàn yên tâm không cần lo lắng khí thải độc hại gây ô nhiễm môi trường.

Quý khách tham khảo thiết bị Công ty Cung cấp:
1. Robot xếp gạch ( Robot gắp gạch ) tự động lê goong thay thế lao động 
2. Robot xếp hàng (robot xếp bao bì) (robot gắp hàng) lên pallet tự động
3. Đầu đùn ép gạch (đâu đùn gạch) công nghệ bán khô
4. Bông treo trần lò nung tuynel cách nhiệt giảm trọng lượng lò nung
7. Dây chuyền sản xuất đá thạch anh nhân tạo
Read more…

Robot xếp hàng hóa

Robot gắp hàng hóa

Máy xếp hàng tự động

Máy đóng bao tự động

Máy đóng bao tự động

Google+ Badge

Robot gắp hàng hóa

Máy đóng bao xếp hàng tự động

Máy xếp bao lên pallet


Công Ty TNHH Thiết Bị Máy Công Nghiệp và Xây Dựng Tân Phú

Văn Phòng Hà Nội:Tầng 21, Capital Tower , 109 Trần Hưng Đạo, Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội

Hotline : 0838.505.222

Kinh Doanh Tư Vấn : 0912.628.539


Email: maygachtanphu@gmail.com
Công nghệ bán khô sản xuất gạch tuynel thiết bị lò gạch robot gắp gạch robot bốc hàng robot xếp hàng đóng thùng! Convert by Công nghệ bán khô sản xuất gạch tuynel thiết bị lò gạch robot gắp gạch robot bốc hàng robot xếp hàng đóng thùng! Template Convert.