Tác động đến môi trường trong lò nung gạch tuynel sử dụng than hóa thạch làm nhiên liệu đốt

21:51 |
Tác động đến môi trường trong lò nung gạch tuynel sử dụng than hóa thạch làm nhiên liệu đốt

Trên cơ sở khảo sát, nghiên cứu qui trình công nghệ sản xuất gạch nhà máy gạch tuynel từ thực tiễn hoạt động sản xuất của nhà máy, nghiên cứu đánh giá tác động môi trường cho nhà máy sẽ là cơ sở lưu ý khi cải tạo và nâng cấp nhà máy sản xuất gạch tuynel công nghệ trần phằng hoặc lò nung di động, tính toán mức độ và phạm vi tác động đến các yếu tố môi trường do hoạt động sản xuất gây nên để có biện pháp giảm lượng khí thải gây ô nhiễm môi trường:
+ Tác động đến chất lượng môi trường không khí,
+ Tác động đến môi trường nước khu vực ,
+ Tác động do chất thải rắn gây ra,
+ Tác động đến các yếu tố kinh tế, xã hội,
+ Rủi ro và sự cố môi trường có thể xẩy ra.
Do chủ đầu tư sẽ trang bị những máy móc, trang thiết bị sản xuất hiện đại, cộng nghệ sản xuất tiên tiến nên sẽ các tác động môi trường nói chung sẽ giảm đi đáng kể. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động sản xuất vẫn không tránh khỏi các tác động sau đây:

Tác động đến chất lượng môi trường không khí
Các công đoạn sản xuất gạch được thực hiện trong cùng một khu vực và là dây chuyền sản xuất liên tục. Đất được lấy từ kho chuyển lên băng tải, trải qua các công đoạn nghiền, sàng lọc, nhào trộn, nhào đùn liên hợp… cho đến sản phẩm cuối cùng là gạch mộc và qua hầm sấy nung trở thành gạch thương phẩm.

Các nguồn và các chất gây tác động đến môi trường không khí trong quá trình hoạt động sản xuất gồm:

 Ô nhiễm do bụi:
*. Nguồn phát sinh:
Bụi phát sinh từ các công đoạn: cấp liệu thùng, công đoạn nghiền, máy ủi, công đoạn cán thô, công đoạn cán mịn, công đoạn cắt gạch, nghiền than, lò nung, hầm sấy, công đoạn rải than lên băng tải 1…
*. Đối tượng chịu tác động:
+ Các đối tượng chịu tác động chủ yếu là cán bộ công nhân viên trong Nhà máy và một số hộ dân sống gần nhà máy.
+ Quy mô bị tác động: Cán bộ công nhân viên của Nhà máy gạch Tuynel thường xuyên làm việc trong nhà máy cũng như các hộ dân xung quanh khu vực nhà máy.
*. Đánh giá tác động:
Có thể thấy hàm lượng bụi lớn nhất phát sinh trong nhà máy là bụi than từ kho chứa than và công tác rải than lên băng tải 1 trước khi nguyên liệu được đưa vào máy cán thô. Tuy nhiên, do than trộn vào nguyên liệu sản xuất gạch là loại than qua lửa được lấy từ nhà máy Nhiệt điện Phả Lại, nhà máy nhiệt điện Uông Bí nên hàm lượng bụi cũng giảm đi rất nhiều và không có các tác động lớn đến môi trường xung quanh. Ngoài ra công đoạn vận chuyển gạch lên goòng đưa vào hầm sấy, rồi vận chuyển gạch lên xe cũng gây ra ô nhiễm bụi nhưng lượng ô nhiễm không đáng kể.
– Bụi có thành phần chính là các loại nguyên liệu được sử dụng trong nhà máy gồm đất và than các loại. Trong trường hợp không có hệ thống thu gom và xử lý thì lượng bụi phát sinh như sau:
Bụi nguyên liệu: Lượng phát thải tạm tính bằng tỷ lệ 0.17% (tương đương bụi phát sinh khi đào đắp một khối lượng đất đá tương tự).
Khối lượng đất nguyên liệu sử dụng 1.439m3/10 ngày (tính toán cho công suất thiết kế là 40 triệu viên/năm). Với tỷ trọng 1,5 tấn/m3 thì khối lượng đất sử dụng cho một ngày là 1,5×1.439/10 = 215,85 tấn; lượng bụi sinh ra hàng ngày là: 215,85 tấn x 0.17%= 0,37 tấn.
Từ năm thứ 2 trở đi công suất của nhà máy sẽ tăng lên 80 triệu viên/năm nên lượng ô nhiễm cũng tăng theo.
• Bụi than: với khối lượng than tiêu thụ khoảng 8.100 tấn/năm (tính toán cho công suất thiết kế là 40 triệu viên/năm), tính toán theo phần mềm SPC (sản phẩm cháy) của giáo sư Trần Ngọc Chấn, lượng bụi có thể phát sinh mỗi ngày là 24kg/ngày.
Bụi phát sinh trong ống khói của lò nung không phát tán ra ngoài mà được lắng đọng ở phần đáy của lò, hàm lượng không cao và sẽ được công nhân nhà máy lạo vét định kỳ hàng năm.
 Ô nhiễm do khí thải nhà máy gạch
*. Khí thải sản xuất:
– Nguồn phát sinh:
Phát sinh từ các quá trình đốt nhiên liệu khí than hoá, các loại khí thải phát sinh từ khu vực lò nung và hầm sấy, một phần từ kho lưu trữ than của nhà máy.
– Đối tượng chịu tác động:
Chủ yếu là những người cán bộ, công nhân trực tiếp làm việc trong khu vực nhà máy. Một số hệ sinh thái vườn, ruộng và hộ dân xung quanh khu vực xuôi hướng gió của nhà máy.
– Đánh giá tác động:
Thành phần của khí thải trong giai đoạn này chủ yếu là CO2, SO2, NOx, HC, và hơi nước do đã chuyển hoá phần lớn trong quá trình chế biến khí than và quá trình đốt trong lò nung và hầm sấy.

Các loại khí thải SO2, NO2, CO, HC, khói và nhiệt… phát sinh từ khu vực lò nung gạch, hầm sấy, và một phần phát sinh trong khu vực kho than.

Tuy nhiên, lò nung và hầm sấy đều được chủ đầu tư thiết kế hiện đại tiên tiến theo kiểu lò nung cải tiến kéo dài cho phép độ chênh lệch nhiệt độ trên mặt cắt ngang của lò ở mức độ thấp nhất, sản phẩm ra lò đạt chất lượng đồng đều tại mọi vị trí trên xe goòng đặc biệt là sản phẩm thành móng chất lượng cao. Hầm sấy Tuynel được chủ đầu tư thiết kế trên cơ sở tận dụng tối đa khí nóng từ vùng làm nguội và khí thải của lò nung thông qua quạt có công suất 3.500 – 4.500m3/h. Do đó, các loại khí thải, khói, bụi cũng như nhiệt đều được hạn chế rất nhiều nên những tác động do chúng gây ra có thể khắc phục được.

Hơn nữa, các loại khí thải trong hầm sấy và lò nung còn tồn tại cũng được đưa ra ngoài qua ống khói cao khoảng 35m. Các loại khí thải này được phát tán đi xa theo chiều gió và được pha loãng với không khí nên nồng độ giảm đi rất nhiều từ chân ống khói. Nhóm nghiên cứu nhận thấy các loại cây xanh của dân cư khu vực xung quanh nhà máy phát triển tốt sẽ rất có lợi cho việc làm giảm bụi và các loại khí thải. Do đó những ảnh hưởng đến môi trường không khí do nhà máy gây ra sẽ được hạn chế đáng kể.

Tuy nhiên vào những ngày trời nhiều mây, độ ẩm không khí cao có thể khói không phát tán được đi xa, các khí thải như SO2 có thể kết hợp với hơi nước trong không khí tạo thành mưa axit sẽ rất nguy hiểm cho chính thiết bị máy móc phục vụ sản xuất trong nhà máy và môi trường xung quanh. Hiểu rõ điều này, nhà máy sẽ có biện pháp giảm thiểu tới mức thấp nhất thiệt hại bằng cách sử dụng loại than tốt nên tình trạng trên sẽ được khắc phục. Nhà máy sẽ có các biện pháp xử lý triệt để nhằm hạn chế hoàn toàn tác động của bụi và khí thải.

Than dùng cho sản xuất: hầu hết nhà máy sử dụng than bột chất lượng cao với hàm lượng lưu huỳnh <0,5% có nguồn gốc từ mỏ than Quảng Ninh. Theo ước tính của nhà máy lượng than được trộn với đất bằng máy rải than tại băng tải 1 để sản xuất gạch với lượng pha than khoảng 80 -100kg/1000 viên gạch mộc tiêu chuẩn. Lượng than trộn với nguyên liệu trong gạch là than qua lửa có mục đích tiết kiệm than đốt trong lò và để gạch chín đều và bền đẹp, hạn chế phát sinh xỉ thải. Than qua lửa được lấy từ nhà máy Nhiệt điện Phả Lại, nhà máy nhiệt điện Uông Bí… bằng phương tiện vận tải đường bộ hoặc đường thuỷ. Vì vậy, sự ô nhiễm không khí bởi khí thải tại nhà máy gạch Tuynel Sài Gòn sẽ được giảm rất nhiều.

Tuy nhà máy có công nghệ tiên tiên đã giảm đáng kể lượng ô nhiễm do khí thải và bụi nhưng vẫn chưa hoàn toàn không còn ô nhiễm. Ta có thể tính toán nồng độ các chất khí thải từ ống khói của nhà máy dựa trên mô hình tính toán và dự báo trên máy tính.
Rất nhiều chương trình tính toán trên máy tính nhằm xác định nồng độ chất ô nhiễm trung bình theo thời gian ở các điểm cuối hướng gió so với nguồn thải.

Đối với Chi nhánh Nhà máy cổ phần sản xuất và thương mại Đại Thanh – Nhà máy gốm xây dựng Sài Gòn tại xã Ngọc Hòa, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang, các nguồn ô nhiễm được coi là nguồn điểm.

*. Ảnh hưởng của các loại khí gây ô nhiễm:

Nồng độ ô nhiễm khí thải trong lò nung gạch tuynel

Khí oxit cacbon:
Oxit cacbon có công thức hoá học là CO, là một chất khí không màu, không mùi, không vị, tạo ra do sự cháy không hoàn toàn của các nhiên liệu có chứa cacbon như xăng, dầu các loại, than…, có ái lực mạnh với hemoglobin và chiếm chỗ oxy trong máu gây thiếu oxy cho cơ thể con người. Tiếp xúc với khí CO có thể gây chóng mặt, đau đầu, buồn nôn, ngất và rối loạn nhịp tim. ở nồng độ CO cao (khoảng 250mg/m3) có thể gây tử vong. Người lao động nếu làm việc liên tục ở khu vực có nồng độ CO cao sẽ bị ngộ độc mãn tính, người thường xanh xao, gầy yếu. Giới hạn cho phép CO trong không khí khu vực sản xuất theo TC 3733/2002/BYT-QĐ là 20 mg/m3, vùng không khí xung quanh và khu dân cư TCVN 5937-2005 là 30 mg/m3.

Khí lưu huỳnh dioxit:
Khí lưu huỳnh dioxit hay SO2 là một chất khí kkhông màu, có vị cay, mùi khó chịu, gây kích thích mạnh, co giật cơ trơn, tăng tiết dịch, viêm và các chứng bệnh khác của đường hô hấp. Khi cháy, thành phần lưu huỳnh trong nhiên liệu phản ứng với oxy và tạo thành lưu huỳnh oxit, trong đó 99% là SO2 và 0,5-2% SO3. Ngoài ra nó còn gây rối loạn chuyển hoá prôtein và đường, gây thiếu vitamin B và C, ức chế enzym cholinesteraza. Tiếp xúc lâu dài với khí SO2 ở nồng độ cao có thể bị bệnh ở hệ tạo huyết vì khi đó hemoglobin tạo ra sẽ tăng cường quá trình oxy hoá Fe2+ thành Fe3+. Giới hạn cho phép khí SO2 trong không khí khu vực sản xuất theo TC 3733/2002/BYT-QĐ là 5 mg/m3, vùng không khí xung quanh và khu dân cư theo TCVN 5937 -2005 là 0,35 mg/m3.

Khí nitơ dioxit:
Khí NO2 được xem là hợp chất chủ yếu trong chuỗi phản ứng cực tím với hydrocacbon trong khí thải của máy móc tiêu thụ nhiên liệu dẫn đến hình thành muội khói có tính oxy hoá mạnh. Khí NO2 được biết đến như một chất gây kích thích viêm tấy và có tác động đến hệ thống hô hấp. Hiện nay khí NO2 ở nồng độ thường gặp trong thực tế có thể được xem là chất độc hại tiềm tàng gây bệnh viêm xơ phổi mãn tính, tuy nhiên chưa có số liệu định lượng về vấn đề này. Giới hạn cho phép khí NO2 trong không khí khu vực sản xuất TC 3733/2002/BYT-QĐ là 5 mg/m3, vùng không khí xung quanh và khu dân cư TCVN 5937-2005 là 0,2 mg/m3.

Đối với sức khoẻ:
SO2, NOx là các chất khí kích thích, khi tiếp xúc với niêm mạc ẩm ướt tạo thành các axít. SO2, NOx vào cơ thể qua đường hô hấp hoặc hoà tan vào nước bọt rồi vào đường tiêu hoá sau đó phân tán vào máu tuần hoàn. SO2, NOx khi kết hợp với bụi tạo thành các hạt bụi axít lơ lửng, nếu kích thước nhỏ hơn 2 – 3 micromét sẽ vào tới phế nang, bị đại thực bào phá huỷ hoặc đưa đến hệ thống bạch huyết. SO2 có thể nhiễm độc qua da gây sự chuyển hóa toan tính làm giảm dự trữ kiềm trong máu, đào thải amôniắc ra nước tiểu và kiềm ra nước bọt.

Đối với thực vật:
Các khí SO2, NOx khi bị ô xy hoá trong không khí và kết hợp với nước mưa tạo nên mưa axít gây tác hại xấu tới sự phát triển của cây trồng và thảm thực vật. Khi nồng độ SO2 trong không khí khoảng 1 – 2 ppm có thể gây chấn thương đối với lá cây sau vài giờ tiếp xúc. Đối với các loại thực vật nhậy cảm giới hạn gây độc kinh niên khoảng 0,15 – 0,30 ppm. Nhạy cảm nhất đối với SO2 là thực vật bậc thấp.

Đối với vật liệu:
Sự có mặt của CO, CO2, SO2, NOx trong không khí nóng ẩm làm tăng cường quá trình ăn mòn kim loại, phá huỷ vật liệu bê tông và các công trình xây dựng, nhà cửa.

Đối với khí hậu:
Các khí thải axít SO2, NOx có thể tạo nên các cơn mưa axít gây hại cho khu vực lân cận hay các vùng xa, ngoài ra khí NOx góp phần gây ảnh hưởng xấu tầng Ozôn… gây ảnh hưởng xấu tới khí hậu, hệ sinh thái cũng như sức khỏe con người.

Thống kê các tác hại bệnh lý chung của một số hợp chất khí độc hại đối với sức khoẻ con người: Chất khí ô nhiễm Tác dụng bệnh lý đối với người

1 Andehyt Gây buồn phiền, cáu gắt, làm ảnh hưởng đến bộ máy hô hấp.
2 Amoniac (NH¬3) Gây viêm tấy đường hô hấp
3 Asen hyđrua (AsH3¬) Làm giảm hồng cầu trong máu, tác hại thận, gây mắc bệnh vàng da.
4 Cacbon ôxít (CO) Làm giảm bớt khả năng lưu chuyển của ôxi trong máu, gây bệnh tim mạch và có thể gây tử vong.
5 Clo (Cl) Gây nguy hại toàn bộ đối với đường hô hấp và mắt.
6 Hydro xyanit Gây tác hại đối với tế bào thần kinh, đau đầu và làm khô họng, mờ mắt.
7 Hydro florua (HF) Gây mệt mỏi toàn thân, viêm da, gây bệnh về thận và xương.
8 Hydro sulfua (H2S) Giống mùi trứng thối, gây buồn nôn, tử vong do bệnh hô hấp
9 Nitơ oxít (NO) Gây bệnh phổi và bộ máy hô hấp, tử vong do bệnh hô hấp
10 Cacbon xyclorua Gây ho, buồn phiền, nguy hiểm đối với người bệnh phổi.
11 Sulfurơ Gây tức ngực, đau đầu, nôn mửa, tử vong do bệnh hô hấp.
12 Tro, muội, khói Gây bệnh khí thũng, đau mắt và có thể gây bệnh ung thư.
13 Bụi Gây viêm đường hô hấp, mắt…


Nguồn gây ô nhiễm nhiệt

– Nguồn phát sinh:
Sự truyền nhiệt do quá trình hoạt động từ các máy móc có công suất lớn.
Sự truyền nhiệt từ lò nung với lượng nhiệt là rất lớn tại các khâu nung, sấy, trong dây chuyền công nghệ như đã được thể hiện trên sơ đồ công nghệ.
– Đối tượng chịu tác động:
Công nhân trực tiếp tham gia sản xuất gạch và cán bộ trong khu vực nhà máy.
– Đánh giá tác động:
Lượng nhiệt toả vào không gian nhà xưởng làm nhiệt độ bên trong nhà xưởng tăng cao có thể chênh với nhiệt độ môi trường bên ngoài từ 3 – 500C, làm ảnh hưởng tới quá trình hô hấp của cơ thể con người tác động xấu tới sức khoẻ và năng suất lao động.
Tuy nhiên, lò nung và hầm sấy là một hệ thống kín. Nhiệt từ lò nung sẽ được dẫn sang hầm sấy bằng đường ống dẫn kín và hệ thống quạt hút nhiệt từ lò nung sang hầm sấy. Lượng nhiệt từ lò nung được sử dụng hoàn toàn để sấy chín gạch trong hầm sấy. Do đó lượng nhiệt phát sinh ra môi trường xung quanh là không đáng kể.

Khí thải từ máy phát điện dự phòng

Máy phát điện với công suất 200KVA được nhà máy sử dụng chạy hệ thống quạt khu vực lò nung, hầm sấy và dùng cho khu vực văn phòng khi mất điện tạm thời. Nhiên liệu sử dụng là dầu diezen (dầu DO).
Theo phương pháp đánh giá nhanh của WHO, tính tải lượng ô nhiễm sinh ra trong khí thải máy phát điện khi hoạt động và nồng độ ô nhiễm tương ứng theo các thông số đầu vào sau:
– Công suất máy phát : 200 KVA
– Lượng dầu tiêu thụ : 15,6 kg dầu/h
– Hàm lượng cacbon, hydro và lưu huỳnh trong dầu: 86,6%, 12,5%, 1,2%
– Lượng khí thải khi đốt 1 kg dầu ở điều kiện tiêu chuẩn và hệ số khí dư là 1,2:
– Lưu lượng khí thải : 474 Nm3/h
Tuy nhiên, việc mất điện rất ít xẩy ra, máy phát điện ít khi hoạt động nên ô nhiễm do máy phát điện gây ra không lớn và không thường xuyên.

Cho đến nay thì nhiều lò gạch rất quân tâm tới việc bảo vệ môi trường trong khâu nung đốt gạch, bằng công nghệ khử lưu huynh dùng dung dịch nước vôi trong để phun trực tiếp vào nược khí thải, các phản ứng hóa học được diễn ra nồng độ khí thải ra môi trường được giảm đi đáng kể từ 70-85% , do đó việc lắp đặt các hệ thống xử lý khói thải này là một vấn đề cấp bách và cần thiết hiện nay, khi các nhà máy đang trong giao đoạn cải tạo và nâng cấp lò nung gạch tuynel với nhiều kiểu lò khác nhau hiện nay như lò nung trần phẳng, lò di động, lò hoffman... cùng với đầu tư thiết bị máy móc hiện đại trong các khâu bốc xếp gạch mộc lên goong dung robot gắp gạch giảm được nhân công lao động hoặc dùng nguyên liệu đất đồi thay thế đất sét, pha trộn các nguyên liệu khác vào trong đất sét, cũng là các biện pháp làm giảm ô nhiễm môi trường trong sản xuất gạch nung, sẽ là công nghệ cần các nhà đầu tư hướng tới là mô hình cần nhân rộng để giảm thiệu tác động khí thải tới mô trường xung quanh.

Read more…

Thành phần hóa học như thế nào trong các loại đất để sản xuất gạch nung

11:20 |
Thành phần hóa học của các loại đất như đất đỏ badan, đất cát, đất sét... như thế nào? có phù hợp để sản xuất gạch tuynel.

Một viên gạch tốt là nền tảng quan trọng giúp cho một công trình trở nên tốt và hoàn hảo hơn. Bởi lẽ đó nên việc lựa chọn nguyên liệu đất để sản xuất gạch cần được quan tâm thật kỹ lưỡng nhằm đảm bảo hiệu quả của công nghệ sản xuất gạch tuynel là tốt nhất. Tuy nhiên, nguyên liệu như thế nào mới là tối ưu nhất và tốt nhất để sản xuất gạch nung?

Các loại đất dao động trong một khoảng rộng về thành phần và cấu trúc theo từng khu vực. Các loại đất được hình thành thông quá quá trình phong hóa của các loại đá và sự phân hủy của các chất hữu cơ. Phong hóa là tác động của gió, mưa, băng, ánh nắng và các tiến trình sinh học trên các loại đá theo thời gian, các tác động này làm đá vỡ vụn ra thành các hạt nhỏ. Các thành phần khoáng chất và các chất hữu cơ xác định cấu trúc và các thuộc tính khác của các loại đất. 


Sản phẩm gạch mộc

Đất có thể chia ra thành hai lớp(hay tầng): tầng đất bề mặt, là lớp trên cùng nhất, ở đó phần lớn các loại rễ cây, vi sinh vật và các loại hình sự sống động vật khác cư trú và tầng đất cái, tầng này nằm sâu hơn và thông thường dày đặc và chặt hơn cũng như ít các chất hữu cơ hơn. 

Nước, không khí cũng là thành phần của phần lớn các loại đất. Không khí, nằm trong các khoảng không gian giữa các hạt đất, và nước, nằm trong các khoảng không gian cũng như bề mặt các hạt đất, chiếm khoảng một nửa thể tích của đất. Cả hai đều đóng vai trò quan trọng trong sự sinh trưởng của thực vật và các loại hình sự sống khác trong thiết diện đứng của đất trong một hệ sinh thái cụ thể. 

Căn cứ vào tỉ lệ các loại hạt (thành phần đá và khoáng chất) trong đất người ta chia đất ra làm 3 loại chính[cần dẫn nguồn]: đất cát, đất thịt và đất sét. Chúng có các tỉ lệ các hạt cát, limon và sét như sau: 

■Đất cát: 85% cát, 10% limon và 5% sét. 
■Đất thịt:45% cát, 40% limon và 15% sét. 
■Đất sét:25% cát, 30% limon và 45% sét. 
■Giữa các loại đất này còn có các loại đất trung gian.
Ví dụ : Đất pha cát, đất thịt nhẹ...  Các loại đất nguyên thủy bị chôn vùi dưới các hiệu ứng của các sinh vật được gọi là đất cổ. 

■Đất đỏ bazan có tính sét nghèo bazơ có cấu trúc viên, ít chặt và có độ xốp cao suất toàn phẫu diện, thành phần cơ giới nặng, tỷ lệ sét chiếm đến 45%, cát chỉ khoảng 30 - 35%. Mùn và đạm tổng số giàu (3 - 3,3% OM và 0,20% N). Lân tổng số giàu 0,25%, lân dễ tiêu thấp 5 - 10 mg/100g đất, ka li tổng số và lân dễ tiêu nghèo từ 0,5 - 0,6%, độ chua vừa đến ít chua. 

Thành Phần hóa học trong đất đỏ bazan

Các loại đất tiến hóa tự nhiên theo thời gian bởi các hoạt động của thực vật, động vật và phong hóa. Đất cũng chịu ảnh hưởng bởi các hoạt động sống của con người. Con người có thể cải tạo đất để làm cho nó thích hợp hơn đối với sự sinh trưởng của thực vật thông qua việc bổ sung các chất hữu cơ và phân bón tự nhiên hay tổng hợp, cũng như cải tạo tưới tiêu hay khả năng giữ nước của đất. Tuy nhiên, các hoạt động của con người cũng có thể làm thoái hóa đất bởi sự làm cạn kiệt các chất dinh dưỡng, ô nhiễm cũng như làm tăng sự xói mòn đất 

Phong hóa giải phóng các ion, chẳng hạn như kali (K+) và magiê (Mg2+) vào trong các dung dịch đất. Một số bị hấp thụ bởi thực vật, và phần còn lại có thể liên kết với các hợp phần đất (chất hữu cơ, khoáng sét) hoặc tồn tại tự do trong dung dịch đất. Cân bằng về hàm lượng các ion trong các hợp phần đất khác nhau là cân bằng động - bị chi phối bởi các quá trình trao đổi và hấp phụ cation, anion. Sự chuyển dịch cân bằng có thể xuất phát từ những thay đổi lý học, hóa học của đất. 

Cùng với quá trình chua hóa đất, các cation hấp thụ bởi khoáng sét có thể bị trao đổi (bởi H+) và bị rửa trôi. Ngoài ra, axit hóa đất cũng là một trong những nguyên nhân thúc đẩy quá trình phong hóa khoáng sét, giải phóng một số ion độc hại đối với thực vật Al3+ (Al3+ là một trong những thành phần chính cấu tạo nên các silicat của đất). Bón vôi (vôi bột hoặc vôi tôi) được coi là một trong những biện pháp hữu hiệu để cải tạo và ngăn chặn quá trình chúa hóa đất đai. 

Mặc dù các nguyên tố như nitơ, kali và phốtpho là cần thiết nhất để thực vật sinh trưởng có thể có rất nhiều trong đất, nhưng chỉ có một phần nhỏ của các nguyên tố này nằm ở dạng hóa học mà thực vật có thể hấp thụ được. Trong các quá trình như cố định đạm và hóa khoáng, các loại vi sinh vật chuyển hóa các dạng vô ích (chẳng hạn như NH4+) thành các dạng có ích (chẳng hạn NO3-) mà cây cối có khả năng sử dụng được. Các quá trình trao đổi, chuyển hóa, tương tác giữa thổ quyển (đất), thủy quyển (nước), khí quyển (không khí) và sinh quyển (quyển sống) thông qua các chu trình sinh địa hóa (chu trình nitơ và chu trình cacbon...) giúp cho vòng tuần hoàn của các nguyên tố này được khép kín. 

Các thành phần hữu cơ của đất có nguồn gốc từ các mảnh vụn thực vật (xác lá cây), các chất thải động vật (phân, nước tiểu, xác chết v.v) và các chất hữu cơ chưa phân hủy khác. Các chất này khi bị phân hủy, và tái tổ hợp tạo ra chất mùn, là một loại chất màu sẫm và giàu các chất dinh dưỡng. Về mặt hóa học, chất mùn bao gồm các phân tử rất lớn, bao gồm các este của các axít cacboxylic, các hợp chất của phenol, và các dẫn xuất của benzen. Thông qua quá trình khoáng hóa, các chất hữu cơ trong đất bị phân giải và cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết để thực vật phát triển. Các chất hữu cơ cũng đảm bảo độ xốp cần thiết cho việc giữ nước, khả năng tưới tiêu và quá trình ôxi hóa của đất. 

Khô hạn của đất sẽ thúc đẩy sự xâm nhập của ôxy không khí vào đất, đồng thời gia tăng quá trình oxy hóa đất và giảm hàm lượng chất hữu cơ đất. Mộtví dụ về điều này có thể xem ở các loại đất tại khu vực Everglades của Florida, ở đó người ta đã tưới tiêu cho nông nghiệp, chủ yếu trong sản xuất mía đường. Nguyên thủy, đất đai ở đây rất giàu các chất hữu cơ, nhưng quá trình ôxi hóa và sự nén đất đã dẫn tới sự phá hủy cấu trúc đất.

Thành phần hóa học viên gạch thành phẩm sau quá trình sản xuất và nung đốt như sau: 
  1. Silica (cát): 50% - 60%
  2. Alumina (sét): 20% - 30%
  3. Vôi: 2 - 5%
  4. Ôxít sắt: 5 - 6%, không được vượt quá 7%
  5. Magiê: dưới 1%

Hiện nay, khi sản xuất gạch tuynel từ nguyên liệu đất hoặc đất đồi hoặc pha trộn các loại đất khác nhau, với công nghệ máy móc hiện đại công ty Tân Phú đưa ra loại máy với công nghệ hiện đại nhất hiện nay với ưu thế vượt trội có lực ép lớn đưa công nghệ vào trong máy móc hỗ trợ máy đùn ép tốt nhất sử dụng nguyên liệu thép có độ cứng và chống mài mòn cao sử dụng 20.000.000 - 50.000.000 viên gạch mới phải thay thế ruột gà được bảo hành máy tới 3 năm. Sản phẩm mộc thành phẩm có độ ẩm thấp 18-19%, trọng lượng viên gạch tăng 3-7% so với viên gạch mộc cùng kích thước khi sử dụng đầu đùn gạch cũ.

Read more…

Công nghệ lò tuynel trần phằng được cải tiến phù hợp với nhiều địa phương ở Việt Nam

11:45 |
Công nghệ lò tuynel trần phằng được cải tiến phù hợp với nhiều địa phương ở Việt Nam



Gạch tuynel được sản xuất bằng công nghệ lò tuynel trần phằng đang là sản phẩm vật liệu xây dựng được ưa chuộng nhất trên thị trường.

Theo nhận định của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực xây dựng thì dự kiến đến năm 2020, Việt Nam sẽ có nhu cầu sử dụng khoảng hơn 40 tỷ viên gạch cho các công trình xây dựng. Và để có thể đáp ứng cho nhu cầu này thì ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng cần phải có sự thay đổi cho phù hợp. Chính vì vậy mà trong quá trình chuyển đổi từ sản xuất gạch lò thủ công sang gạch lò gạch tuynel trần phẳng với công nghệ sản xuất có nhiều ưu điểm vượt trội thì các công ty đã lựa chọn công nghệ lò tuynel trần phẳng.

Quy trình sản xuất gạch tuynel bằng công nghệ lò tuynel trần phằng

Với việc sử dụng công nghệ lò tuynel trần phằng thì quy trình sản xuất gạch tuynel đã đạt được những hiệu quả kinh tế lớn nhất.

Bước 1 : Xử lý nguyên liệu
Nguyên liệu thích hợp nhất để làm gạch tuynel đặc hoặc gạch tuynel 2 lỗ : là đá phiến đất sét, đá mạch. Nguyên liệu sau khi được trộn với một tỷ lệ phù hợp sẽ được đưa vào băng tải để tiến hành nghiền thô, nghiền nhỏ và trộn đều. Hỗn hợp sau khi được trộn sẽ được đưa vào băng tải đưa tới khu lưu hóa.

Bước 2 : Thành hình và xếp gạch
Qua các công đoạn nhào trộn gạch sẽ qua đầu đùn gạch tuynel với công nghệ đầu đùn hút chân không với áp lực ép lớn sẽ cho ra sản phẩm gạch mộc đẹp và đồng đều,  được đưa qua máy cắt tự động để cắt gạch theo đúng chiều dài yêu cầu. Sau đó sẽ chuyển sang robot gắp gạch tự động

Bước 3 : Sấy và nung
Gạch sẽ được đưa vào sấy và nung trong một điều kiện nhiệt độ nhất định cho đến khi đạt yêu cầu thành phẩm

Bước 4 : Xếp dỡ gạch thành phẩm
Gạch sau khi được nung, sấy rồi làm nguội trong lò sẽ được đưa lên băng chuyền rồi xe nâng sẽ chất gạch lên xe hoặc chở gạch vào kho cất giữ.

Công nghệ lò tuynel trần phằng cải tiến phù hợp với nhiều địa phương ở Việt Nam

Công nghệ sản xuất gạch tuynel sử dụng công nghệ lò tuynel trần phằng có nguồn gốc từ Trung Quốc, được chuyển giao vào Việt Nam từ những năm 2010 .
Chi phí đầu tư sản xuất theo công nghệ lò tuynel trần phẳng không quá lớn, lại có thể tận dụng được nguyên liệu phế thải từ ngành nông lâm sản nên giúp cho các doanh nghiệp có thể thu hồi vốn nhanh. Ưu điểm của công nghệ này là sử dụng những chất đốt rẻ tiền, chi phí xây dựng không cao.


 Trên địa bàn một số các địa phương ở Việt Nam thì việc sử dụng công nghệ lò tuynel trần phằng là lựa chọn tối ưu cho quá trình sản xuất bởi không chỉ có công nghệ sản xuất gạch tuynel hoàn hảo mà công nghệ này còn có những cải tiến phù hợp với mức độ thân thiện và an toàn cho môi trường xung quanh.

Lựa chọn công nghệ lò tuynel trần phằng, bạn sẽ không cần phải băn khoăn về chất lượng sản phẩm được sản xuất đồng thời hoàn toàn yên tâm không cần lo lắng khí thải độc hại gây ô nhiễm môi trường.


Read more…

Thành công khi cải tạo lò nung gạch tuynel công nghệ lò nung trần phẳng

17:50 |
Thành công khi cải tạo lò nung gạch tuynel công nghệ lò nung trần phẳng

Lò nung gạch tuynel lò vòng hiện rất nhiều nhà máy sử dụng với thiết kế từ tổng công ty gạch ngói vigracera, với thiết kế lò nung và hầm sấy tương đối hiện đại so với thời điểm những năm 1990-2016, với thiết kế hầm sấy ngắn cùng kích thước goong 2m hoặc 2.4m hoặc 2.6m, 


Gạch mộc được phơi tại sân bê tông với nhân công lao động vào khoảng 100-150 công nhân, thất thoát gạch mộc hư hỏng và vỡ trong khi phơi tỷ lệ khoảng 1-8%, 

Nhiều nhà máy cũng có sáng kiến cải tạo thành công, với đầu tư thêm pallet gỗ, có nhà máy đầu tư bằng thép. Gạch mộc sau khi đùn được xếp trực tiếp lên pallet xe nâng chuyển ra sân phơi, kêt hợp với lượng lớn quạt để gạch mộc nhanh tróng thoát không khí ẩm. Lượng nhân công cũng được giảm đáng kể khoảng 10-30 nhân công, nhưng đầu tư thêm xe nâng hàng và nhân công vận hành máy, tăng chi phí dầu máy và sửa chữa máy. 

Cải tạo lò nung để đẩy công suất lò từ 30 goong/ 24 giờ lên 36-50 goong/ 24 giờ là bước cải tiến rất quan trọng tăng công suất nhà máy từ 10 triệu/ năm viên lên 30 triệu viên / năm gạch quy tiêu chuẩn.

Với công nghệ hiện đại việc cải tạo lò nung gạch từ lò vòng sang lò nung trần phẳng là bước cải tiến hoàn toàn đột phá nhằm tăng công suất lò nung giảm nhiên liệu xuống từ 35 % xuống còn 8-12%, giảm giá thành sản xuất. Thiết kế lò thông minh và cải tiến tính toán được luồng không khí nóng chuyển sang lò sấy nhiều nhất.

Với thiết kế máy móc công nghệ sản xuất gạch tuyenl cũ chuyển sang công nghệ sản xuất gạch đất đồi với nguyên liệu hoàn toàn sang đất đồi là bước cải tiến mới chuyền dần từ nguyên liệu đất sét sang nguyên liệu đất đồi. Với công nghệ mới cần đầu tư máy móc thiết bị đồng bộ gồm máy nghiền đất đồi, nhà ủ nguyên liệu, cùng với máy cán thô cán mịn , máy trộn, máy nhào lọc, đầu đùn gạch chân không có ưu điểm vượt trội về thiết kế máy cùng với áp dụng các thiết bị điện điều khiển máy tự động hơn. Các nhà máy cũng sử dụng robot xếp gạch mộc trực tiếp lên goong giảm được nhân công trong một ca sản xuất gạch mộc còn 5 người.

Áp dụng công nghệ sản xuất gạch từ đất đồi rất nhiều nhà máy tại các tỉnh áp dụng thành công, Lạng Sơn , Bắc Giang, Hưng Yên, Thái Nguyên, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Thái Bình Nam Định, Hà Nam, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh... Với kích lò nung từ 3.2m, 3.6 m, 3.8m. 4.2 m, Với khối xếp gạch lớn hơn từ 5000-8000 viên gạch/ goong.

Các nhà máy đầu tư thêm lượng xe goong rất lớn từ 150-500 chiếc goong để phục vụ sản xuất từ 1 lò nung hoặc 2 lò nung hoặc 3 lò nung. Lắp đặt các biến tần cho quạt hút...Thay và lắp mới quạt cấp khí nóng cuối lò, quạt hút khí thải, ống khói để tăng lưu lượng hút phù hợp với hệ thống sấy đã kéo dài. Thay đổi phương án xếp gạch trên nền goòng, không sử dụng gạch chân cầu giúp giảm tích lũy nhiệt.

Thay thế ống khói bằng composit chất lượng cao độ bền từ 20-50 năm, cùng với hệ thống khủ lưu huỳnh giảm được khí thải độc hại ra môi trường.

Kết quả đạt được sau khi thực hiện dự án

• Việc kéo dài hầm sấy chính làm khô gạch rất nhanh. Sau khi đùn ép nguyên liệu thành  gạch mộc chỉ sau 2-3 ngày là có thể đưa vào hầm sấy thay vì trước kia phải sau hơn 1 tháng phơi gạch;
• Chất lượng gạch dai hơn so với gạch cũ, giảm tỷ lệ gạch vỡ xuống chỉ còn 1%;
• Việc cải tạo lò nung từ trần vòm thành trần phẳng (trần thả vách) giúp lượng nhiệt trên vòm lò luôn được lưu chuyển đều trong toàn bộ lò nung làm gạch chín đều hơn từ trên xuống ưới, từ trong ra ngoài. Tỉ lệ gạch loại 1 đạt tới hơn 95%;
• Hệ thống xe goong được cải tạo và phương án xếp gạch trên goong được thay thế kiểu xếp củ làm gạch có màu sắc đẹp, gạch chín đều hơn và chất lượng tốt hơn;
• Việc thay đổi lắp biến tần và quạt hút khí mới đã cải thiện điều chỉnh lưu lượng gió, khí trong lò và nhiệt độ tốt hơn và đảm bảo cho chất lượng gạch luôn ổn định;
• Đặc biệt việc thay thể than tra trên nóc lò bằng mùn cửa và trấu đã tiết kiệm năng lượng vô cùng lớn, giảm chi phí đầu vào và giúp cho công nhân vận hành lò không bị nóng và bụi.



Read more…

Lò xoay tuynel, công nghệ lò nung gạch tuynel hiện đại nhất hiện nay

20:16 |
Hệ thống lò xoay tuynel, công nghệ lò nung gạch tuynel hiện đại nhất hiện nay



Hiện nay, giá nhiên liệu đang chiếm tới 40% tổ giá thành trong sản xuất gạch đất sét nung tuynel. Cho nên các nhà máy sản xuất gạch hiện nay đều đặc biệt coi trọng vấn đề tiết kiệm nhiên liệu và nguyên liệu sản xuất. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng như yêu cầu ngày càng cao với nhu cầu bảo vệ môi trường. Do đó vấn đề giảm bớt tiêu hao nguyên nhiên liệu là vô cùng quan trọng, là yếu tố sống còn của bất kỳ nhà máy sản xuất gạch nung tuynel nào. và để làm được điều này, cần giải quyết rất nhiều vấn đề trong đó đặc biệt là vấn đề công nghệ lò nung gạch hiện nay

Kết cấu mới hợp lý của lò đảm bảo trong 10 năm không phải sửa chữa nhiều , các nguyên vật liệu chịu nhiệt chịu lửa đảm bảo 5 năm không phải sửa chữa thay nhiều . Đồng thời còn giảm tối thiểu dây trượt tiếp xúc của dây cáp 3 pha , nâng cao tuổi thọ và tính năng sử dụng an toàn cho dây cáp 3 pha , giúp cho doanh nghiệp giảm tối thiểu vốn đi vào hoạt động . Khói được thông qua đường ống khói trượt đi vào hệ thống sử lý khí thải , nắp trượt của hệ thống và lò di chuyển cùng lúc , đạt đến mức độ tiếp xúc vô cùng kín , không bị hở , làm cho lượng gió trong lòng lò luôn luôn ổn định . Sự vận hành hợp lý của hệ thống đưa gió đào thải khí thải , đã làm giảm đáng kể lượng đào thải khí thải từ các thiết bị sử lý khử huỳnh , càng dễ dàng có thể đạt đến tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường .

Thêm vào đó chi phí tiền lương cho nhân công vận  hành nhà máy chiếm lớn nhất. Lò xoay Tuynel, lò đĩa, công nghệ lò quay là những tên gọi khác nhau của công nghệ này.

Lò xoay tuynel đặc biệt thích hợp với nhiều loại nguyên liệu như : đất đồi, đất đá phong hóa, phế thải xây dựng, thải từ các mỏ quẳng hay thậm chí là bùn thải tạp chất độc hại từ những nhà máy khu chế suất hay luyện gang thép…..

Vậy lò xoay tuynel mới có những ưu điểm vượt trội nào:

  • Dẫn đầu về công nghệ sấy nung
  • Mức tự động hoá cao nhất với tổ hợp hệ thống robot xếp gạch tự động bằng robot yaskawa
  • Cho sản phẩm gạch có chất lượng cao nhất, đẹp về màu sắc, bền về cường độ
  • Cho sản lượng lớn từ 200-400 triệu viên QTC/ năm
  • Lần đầu tiên bạn bước vào nhà máy gạch mà ngỡ như công viên
  • Trang bị hệ thống thu gom và xử lý khí thải tiên tiến nhất thế giới thân thiện với môi trường
  • Thời gian thi công ngắn, phương pháp thi công đơn giản
  • Chi phí vận hành và bảo trì thấp.
  • Đã và đang được triển khai thực tế tại Việt Nam
  • Hoàn toàn phù hợp với điều kiện sản xuất, nguyên liệu và thị hiếu dùng gạch tại Việt Nam hiện nay.
  • Chính tôi tự tin mang đến cho bạn công nghệ tuyệt vời này:
  • có nhiệt năng tiêu hao thấp chỉ từ 250~300KCAL/KG thậm chí một số lò còn thấp hơn 200KCAL/kg


Read more…

Thiết kế lò nung gạch tuynel

11:33 |
Mô tả công nghệ sản xuất gạch tuynel sử dụng nguyên liệu đất đồi

Đối với dây chuyền sản xuất này, nguyên liệu thô là đất sét, đất đồi, gạch thành phẩm bị lỗi. Cần phải xử lý số lượng lớn nguyên liệu thô.


Trong kho nguyên liệu, các máy xúc sẽ cung cấp nguyên liệu cho máy cấp liệu. Ở phần trên của kho nguyên liệu có hàng rào bằng kim loại, để ngăn chặn khối đất sét và chất hữu cơ gây hại thiết bị. Nguyên liệu thô sẽ được gửi đến máy nghiền trục chính và máy nghiền nghiền mịn. Bột than sẽ được thêm vào đây và trộn với nước.

Để tăng khả năng kho và cải thiện hiệu ứng hóa lý, kho chứa đồng hóa kiểu trục nghiêng được áp dụng. Vì vậy, nguyên liệu thô đang được phân phối trên đỉnh kho bởi băng tải di chuyển, nguyên liệu đủ thời gian ủ sẽ được cào xuống từ cạnh bên của máy cấp liệu chuyển tới máy cán thô máy cán mịn máy nhào lọc ...

Quy trình tổng quát là quy trình ép đùn bán cứng cho khuôn gạch, xếp gạch mộc trực tiếp lên goong qua lò sấy và lò hầm để nung.

Đây là công nghệ tiên tiến và thiết thực, có thể đáp ứng yêu cầu sản xuất.


Sấy và nung

Sấy khô và nung sẽ áp dụng quá trình thiết lập và kích hoạt 2 lần. Buồng sấy thông qua máy sấy đường hầm loại mới với chiều rộng bên trong 2,5 - 3.2 mét. Toàn bộ dây chuyền sản xuất thông qua 30 goong . Nguồn nhiệt là dư / nhiệt thải từ lò nung. Nhiệt độ hút không khí hút và khối lượng không khí sẽ được điều chỉnh thông qua hệ thống điều chỉnh không khí, để đảm bảo chất lượng sấy của gạch màu xanh lá cây. Những viên gạch xanh khô sẽ được bốc dỡ khỏi giỏ hàng khô và xếp lại trên giỏ hàng bằng tay.

Đường hầm lò áp dụng 2 bộ phần lớn với chiều rộng bên trong 4,6 mét, nó được thiết kế như một cấu trúc trần phẳng với gạch chịu lửa. Xem xét các viên gạch không thể có trung tâm và các mẫu màu đen, nguồn nhiên liệu đốt cháy chủ yếu bằng cách trộn bên trong than, ngoài-đúc-than như bổ sung, nhiệt phải đáp ứng yêu cầu công nghệ bắn. Lò nung này thích hợp để bắn các sản phẩm với sản phẩm 1300-1500KJ / Kg.

Lò nung có hệ thống xả khói, hệ thống tái chế, hệ thống thu hồi nhiệt thải, hệ thống làm mát và hệ thống cân bằng áp suất. Lò này có các tính năng sau: phần lớn, năng suất cao, chênh lệch nhiệt độ phần nhỏ, hiệu quả bảo quản nhiệt tốt. Trong khi đó, hệ thống điều khiển tự động lò được trang bị để đảm bảo rằng các thông số nhiệt nướng ổn định, do đó chất lượng bắn được đảm bảo.

Xác định thiết bị kỹ thuật nhiệt để sấy khô và nung

Theo quy trình nguyên liệu và công nghệ, thiết bị kỹ thuật nhiệt cho quá trình sấy và nung thông qua 1 nhóm máy sấy đường hầm nhỏ và 1 lò hầm lò lớn.

Tính năng của thiết kế này là đầu tư thấp, sản xuất linh hoạt, tận dụng tốt nhiệt thải từ lò nung, và tận dụng tối đa lợi thế lò hầm. Đồng thời, nó có thể làm giảm tiêu thụ năng lượng. Ngoài ra, lò sấy và lò sấy nhỏ với hiệu suất sử dụng nhiệt cao, công suất lớn và công nghệ tiên tiến, giúp nhà đầu tư giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và nâng cao hiệu quả kinh tế.

Thiết kế hệ thống lò nung gạch tuynel và cấu trúc 

1. Hệ thống

Bản vẽ thiết kế lò nung cho từng hầm lò nung sẽ được thi công theo nguyên lý cơ bản Lò nung có hệ thống xả khói hoàn toàn, làm mát, xả nhiệt thải, cân bằng áp suất dưới hệ thống lò nung, chạy và phát hiện hệ thống. Đường cong bên trong lò sẽ hợp lý hơn, hệ thống sản xuất phối hợp nhiều hơn thông qua việc điều chỉnh hệ thống.

Ở phía lối vào, có một phòng chuẩn bị, và một cánh cửa cắt giữa phòng chuẩn bị và khu lò sấy sơ bộ. Có lối vào và lối ra cửa ở cả hai đầu của lò tunnel. Do đó nó có hiệu quả tránh xâm nhập vào không khí lạnh và đảm bảo hệ thống nướng bên trong không bị ảnh hưởng bởi bên ngoài.

2. Kết cấu

Tường: Gạch đỏ được đặt cho khu vực làm nóng trước và vùng làm mát nơi nhiệt độ dưới 200ºC. Phần còn lại đang áp dụng tường kết hợp. Các viên gạch pháo sẽ được đặt trên khu vực nướng và tường bên trong khu vực xúc phạm. Gạch đất sét xúc phạm sẽ được sử dụng để đặt khu vực xúc phạm. Trong khi đó, vải chịu lửa cảm thấy (đối với phần tương đối của đường cong nhiệt độ trên 600ºC) hoặc len đá cảm thấy sẽ được sử dụng để nhồi và gạch đỏ sẽ được đặt trên tường bên ngoài.

Cấu trúc mái của lò nung: Một không gian lò xe vẫn ở trong vùng nhiệt độ thấp ở cả hai bên, thông qua phiến bê tông đúc sẵn. Đối với các vị trí khác, từ dưới lên theo thứ tự là: gạch chịu lửa tấm, gạch chịu lửa, khung thép đúc, dầm thép nhỏ và dầm thép loại H. Cả hai bên tường chịu lửa đều hỗ trợ trọng lượng của dầm chính. Vật liệu chịu lửa fibrofelt, cảm giác len đá, tấm len đá được đặt trên tấm tay chịu nhiệt, tạo thành lớp cách nhiệt phức tạp. Chất kết dính nhiệt độ cao đang được lấp đầy với khoảng cách giữa
Cấu tạo lò nung gạch thông qua quá trình thiết lập lò nung và lò sấy

Chất lượng gạch thành phẩm được đảm bảo bởi hệ thống kiểm soát nhiệt độ và lưu lượng gió. Gạch mộc sau khi sấy khô được vận chuyển sang đầu lò nung thông qua phà.

Sơ đồ công nghệ lò nung gạch tuynel có ngay trước khi thiết kế toàn bộ nhà máy gạch. Quá trình hoạt động của lò nung tuynel được xử lý khí thải thông qua hệ thống khử lưu huỳnh, hệ thống làm mát, hệ thống van điều tiết nhiệt, hệ thống cân bằng áp suất dưới gầm xe goong, và hệ thống giám sát. Lịch trình đẩy goong thông qua các quá trình điều chỉnh van và quạt.

Tường bên trong có vùng nhiệt độ < 200 độ C lò sấy sơ bộ và vùng làm mát được xây bằng gạch đỏ, lớp bên trong vùng có nhiệt độ >200 độ C khu vực bảo ôn vùng tiền nung vùng nung và vùng sau nung được xây bằng gạch chịu lửa, hoặc bằng bông gốm cách nhiệt, lớp ngoài của lò được xây bằng gạch đỏ.

Cấu tạo của lò nung gạch tuynel

Hai đầu lò được sử dụng bê tông đúc sẵn với kích thước tùy vào kích thước và cấu tạo lò nung . Đối với các vùng khác được sử dụng gạch chịu lửa hoặc bông gốm cách nhiệt treo trần lò nung thông qua hệ thống thanh sắt gá trên hai thành tường lò nung. Khoảng cách giữa các khối bông cách nhiệt được trèn bới lớp bông tấm, phủ một lớp công tấm trên mặt của lò nung, đảm bảo độ kín khít của trần lò nung. Các ống tran than và các can nhiệt được đặt trên đỉnh lò nung và lò sấy, đảm bảo độ tin cậy không thất thoát nhiệt, độ bền của cấu trúc. Kỹ thuật đốt lò nung gạch tuynel rất quan trọng thành phần nguyên liệu sẽ thay đổi theo từng lô đất lên cần lưu ý.





Read more…

Cấu tạo lò nung gạch tuynel

11:09 |
Cấu tạo lò nung gạch tuynel

Lò nung là một phần thiết yếu trong sản xuất tất cả các loại gạch. Gạch đất sét đòi hỏi nhiệt độ cao nên các phản ứng hóa học và vật lý sẽ xảy ra để thay đổi vĩnh viễn cơ thể không bị vỡ. Trong trường hợp gạch, vật liệu đất sét được định hình, sấy khô và sau đó được nung trong lò. Dựa vào nguyên lý cơ bản của hệ thống lò nung mà các nhà thiết kế lò có những bản vẽ thiết kế lò nung gạch tuynel khác nhau với kích thước lò và các van cho phù hợp với khối xếp gạch mộc Các đặc điểm cuối cùng được xác định bởi các thành phần và sự chuẩn bị của cơ thể đất sét và nhiệt độ mà tại đó nó được kết khối.



Đất sét bao gồm các hạt mịn, tương đối yếu và xốp. Đất sét được kết hợp với các khoáng chất khác để tạo ra một lớp đất sét khả thi. Việc chuyển giao công nghệ và kỹ thuật đốt lò nung gạch tuynel sẽ dựa vào nguyên liệu và khối xếp cùng với thiết kế lò nung gạch tuynel để đốt gạch cho ra sản phẩm gạch tốt nhất năng suất cao. Một phần của quá trình nung bao gồm quá trình thiêu kết . Điều này làm nóng đất sét cho đến khi các hạt tan chảy một phần và chảy cùng nhau, tạo ra một khối lượng mạnh, đơn, gồm một pha thủy tinh xen kẽ với các lỗ chân lông và vật liệu tinh thể. Vật liệu tinh thể này chủ yếu bao gồm silicon và oxit nhôm.

Cấu tạo lò nung tuynel trong điều kiện rộng nhất, có lò nung liên tục , đôi khi được gọi là lò nung đường hầm (lò tuynel) , là một cấu trúc dài trong đó chỉ có phần trung tâm được làm nóng trực tiếp. Từ cửa đầu vào ,gạch mộc được vận chuyển từ từ qua vùng nung, và nhiệt độ của nó được tăng đều đặn khi nó tiếp cận tới vùng trung tâm, nóng nhất của lò. Từ đó, nó tiếp tục qua vùng làm nguội, và nhiệt độ xung quanh giảm xuống cho đến khi nó thoát ra phần đuôi lò ở nhiệt độ phòng. Lò nung liên tục là năng lượng hiệu quả, bởi vì nhiệt tỏa ra trong quá trình làm mát được tái chế để làm nóng trước khi vào lò nung chính. Lò nung trong loại này bao gồm:

-Lò Hoffmann
- Lò rãnh của Bull
- Lò Habla (Zig-Zag)

Lò tuynel: Một loại lò nung đặc biệt, phổ biến trong sản xuất gạch, là lò nung con lăn , trong đó gạch mộc được đặt trên các xe goong được di chuyển qua lò thông qua các bánh xe goong.

Trong lò tuynel liên tục thiết bị đẩy xe goong là kích thủy lực dùng để đẩy goong mộc vào hầm sấy và lò nung, với công nghệ sản xuất gạch từ đất đồi hiện nay áp dụng sử dụng dạng lò nung hoàn toàn có thể áp dụng với nhiều cải tiến mới tăng năng suất, thời gian đẩy mỗi goong rút ngắn xuống. Lò được đóng lại, và nhiệt độ bên trong tăng theo lịch trình. Sau khi hoàn thành việc đẩy goong, goong gạch thành phẩm được làm lạnh. Gạch thành phẩm được xếp ra bãi thành phẩm, goong được làm vệ sinh sạch sẽ và chu kỳ tiếp theo bắt đầu.

Công nghệ lò nung của Trung Quốc luôn là yếu tố then chốt trong sự phát triển của gốm Việt Nam, và cho đến tận thế kỷ gần đây vẫn còn vượt xa các khu vực khác trên thế giới. Người Trung Quốc đã phát triển các lò hiệu quả có khả năng nhiệt vào khoảng 1000 ° C trước năm 2000 trước Công nguyên. Vào cuối đời Minh ,lò hình trứng hoặc zhenyao được phát triển tại Jingdezhen , nhưng chủ yếu được sử dụng ở đó.

Với thời đại công nghiệp , thiết kế lò nung gạch tuynel được thiết kế để sử dụng than và các loại nhiên liệu tinh chế hơn, bao gồm than phế thải chất lượng kém rẻ tiền . Nhiều lò gạch tuynel lớn sử dụng than cám có nhiệt trị thấp, vì nó thường sạch sẽ, hiệu quả và dễ kiểm soát. Lò hiện đại có thể được trang bị điều khiển bằng máy vi tính cho phép điều chỉnh tốt trong quá trình nung. Người dùng có thể chọn để kiểm soát tốc độ tăng nhiệt độ hoặc giảm nhiệt độ , giữ hoặc di chuyển goong với nhiệt độ tại bất kỳ điểm nào, hoặc kiểm soát tốc độ làm mát.


Read more…

Nguyên lý vận hành lò nung gạch tuynel

22:43 |
Nguyên lý vận hành lò nung gạch tuynel

Lò tuynel được áp dụng trong ngành vật liệu xây dựng từ nhiều năm nay áp dụng lò tuynel dạng vòng với kích thước goong 2x2,4m hoặc 2,6x2,6 m với chiều dài lò 80-96m. Hiện nay áp dụng công nghệ lò nung gạch tuynel dạng lò nung trần phẳng kích thước lò 3.2m hoặc 3.6m hoặc 3.9m, 4.2m, tùy vào khối xếp gạch từng vùng khác nhau. Dể hiểu nguyên lý vận hành lò nung cũng ít người biết nguyên lý vận hành của lò nung gạch tuynel dạng trần phẳng . Để hiểu hơn về nguyên lý của dạng lò nung này, mới quý khách xem qua bài viết dưới đây.

Các lò hiện đại thường có lớp cách nhiệt dạng bông hoặc sợi rất tốt, lò có kết cấu kín và rất bền nhiệt cho phép tiết kiệm nhiên liệu và rút ngắn thời gian nung. Nhiệt của khí thải được tận dụng để đốt nóng không khí cho quá trình nung.

Sơ đồ hệ thống điều khiển lò nung tuynel





Lò tuylen có dạng đường hầm  thẳng, có chế độ làm việc liên tục, sử dụng các dạng nhiên liệu khác nhau. Gạch mộc được xếp trên các goong theo kích thước viên gạch cùng với kích thước goong sẽ phù hợp với khối xếp khác nhau, các xe goong được chuyển động ngược chiều với chuyển động của khí nóng. Lò nung có chiều dài từ 96 - 110m, có van hổi lưu, trộn khí, tránh sự phân lớp khí làm nhiệt độ lò không đồng đều.

Lò nung tuynel được chia làm 3 vùng: vùng tiền nung, vùng nung, vùng sau nung. Không khí lấy từ nhiệt động bên ngoài sẽ được hút qua vùng làm nguội nhiệt độ dần được đốt nóng lên và được chuyển sang vùng nung tham gia quá trình cháy. Không khí nóng được chuyển sang vùng đốt nóng sấy khô sản phẩm mộc và đốt nóng gạch mộc trước khi chuyển sang vùng nung. Khói lò được thải ra ngoài qua ống khói nhờ quạt hút. Sự tuần hoàn của khí thải cho phép tạo ra chế độ nhiệt và chế độ ẩm dịu hơn, làm cho nhiệt độ đồng đều trên tiết diện lò nung, giảm tác động có hại của không khí lạnh lọt vào trong lò nung.

Tính năng kỹ thuật của lò tuynel: 
– Nhiên liệu:  than đá, than cám, và các phế phẩm của than khác cùng các nhiên liệu khác...
– Sản phẩm di động, nhiệt cố định, dòng khí chuyển động ngược chiều sản phẩm.
– Kiểm tra nhiệt độ của lò nung bằng can nhiệt, có thể cài đặt nhiệt theo yêu cầu;
– Chế độ đốt lò liên tục;
-Khí thải thóat qua ống khói nhờ quạt hút.

Để vận hành lò nung gạch tuynel dạng trần phẳng cần người xây lò thật kỹ thuật và chuyên nghiệp cùng với chuyển giao công nghệ lò nung thật hiệu quả cho từng loại sản phẩm và vùng nguyên liệu khác nhau. Công nghệ sản xuất gạch tuynel với nguyên liệu đất đồi phải kiểm nghiệm đầy đủ thành phần hóa học để đưa ra được phương án tối ưu nhất cho lò nung gạch.

Lượng nhiệt trong lò nung rất quan trong cho ra sản phẩm chất lượng gạch đồng đều với màu đỏ tươi với cường độ và độ hút nước tốt nhất cần kỹ thuật đốt. Với lựa chọn công nghệ đốt và công nghệ máy móc cùng với sự đồng bộ hóa các thiết bị sẽ cho ra sản phẩm đồng đều lỗi sản phẩm thấp nhất khoảng 0-1%, 

Lưa lượng khí trong lò nung cùng với tính toán được thiết bị quạt hút và quạt đẩy phù hợp nhất, Cách mở van để luồng khí đi hợp lý . Việc xây lò nung phần lớn được thọ xây lò lắm bắt bí kíp với chi phí rất thấp.




Read more…

Hệ thống đùn ép gạch mộc và các yêu cầu cơ bản của thiết bị tạo hình

19:13 |
Hệ thống đùn ép gạch mộc và các yêu cầu cơ bản của thiết bị tạo hình

Hệ thống đầu đùn ép gạch mộc là một hệ thống với các máy móc phù hợp có nhiệm vụ chính sau:
- Làm tơi đất nguyên liệu và tạo thành dòng đều đặn thuận tiện cho việc trộn than;
- Đảo trộn để tạo ra tính đồng nhất về chất liệu đất;
- Làm vỡ các kết cấu cứng, các hạt lớn nhằm tạo điều kiện biến đổi chấtliệu đất, đồng nhất và đảm bảo độ mịn bề mặt sau nung;
- Loại bỏ được các tạp vật ảnh hưởng đến quá trình tạo hình gạch;
- Tạo độ ẩm đủ để đảm bảo tính liên kết dẻo của đất nguyên liệu và giảm thiểu nhu cầu sấy;
- Tạo hình viên gạch có kích cỡ đồng nhất với bề mặt phẳng đẹp và độ cứng chắc nhất định.

Với các nhiệm vụ chính như vậy, yêu cầu của một hệ thống đùn ép gạch hiện đại bao gồm:
- Có mức liên động tự động cao để đảm bảo vận hành đồng bộ từ đầu vào đất
nguyên liệu đến đầu ra thành phẩm đồng thời giảm nhu cầu nhân công;
- Đảm bảo khả năng thao tác của công nhân bốc gạch ra khỏi hệ thống;
- Tiết kiệm điện năng khi chế biến tạo hình;
- Có độ bền tốt với các tác động mài mòn khi gia công với các loại hình đất nguyên liệu khác nhau.

Các thiết bị trong hệ thống đùn ép gạch hiện nay bao gồm:

1.Máy cấp liệu thùng
Nhiệm vụ chính:
- Tiếp nhận đất nguyên liệu đưa vào bằng máy ủi, máy xúc. Thường được thiết kế
đặt sát với kho chứa đất có mái che để tiếp nhận đất vào từ trên mặt thùng. Qua
lưới sắt có kích cỡ khoảng 200 x 200mm. Trong cấp liệu thùng, băng tải xích vận
chuyển đất ra đi qua bộ phận dao thái đất và bộ phận cào liệu thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Làm tơi đất nguyên liệu;
- Định lượng cung cấp nguyên liệu cho bộ phận tiếp theo;
- Đưa liệu ra thành dòng đều đặn cấp vào băng tải phục vụ trộn than;
- Loại bỏ các cục nguyên liệu lớn rơi vào băng tải;
- Các nguyên công chuyển động của dao thái, của xích và bộ phận cào liệu được thực hiện bởi động cơ quay.

Nguyên lý tiết kiệm năng lượng cho cấp liệu thùng bao gồm:
- Quản lý dòng nguyên liệu vào phù hợp tránh được các cục nguyên liệu to để giảm mô men cần thiết của băng tải xích và dao thái;
- Đánh giá công suất và lắp đặt động cơ có công suất đủ;
- Có thể lắp biến tần để điều chỉnh tốc độ xích và dao thái phù hợp với yêu cầu.

2.Các băng tải

Nhiệm vụ:
- Vận chuyển đất hoặc than hoặc gạch mộc sau khi cắt giữa các máy theo sự bố trí
của dây chuyền.
Yêu cầu kỹ thuật ;
- Có độ bền tốt của băng tải cao su;
- Có tốc độ chuyển động phù hợp để vận chuyển vật liệu tùy thuộc vào nhu cầu công suất;
- Kết cấu khung băng cứng vững phù hợp để làm việc lâu dài.

Biện pháp tiết kiệm năng lượng có thể:
- Đảm bảo độ căng băng tải và khả năng ma sát giữa băng tải và các rulo chủ động, bị động tạo điều kiện chuyển động tốt nhất;
- Có thể lắp biến tần để điều chỉnh tốc độ băng tải.

3.Máy cán
Nhiệm vụ
- Sử dụng hai quả lô quay ngược chiều nhau để cán dẹt dòng đất nguyên liệu đi vào,
phá vỡ các kết cấu cục to của đất tạo điều kiện làm tơi đất tốt hơn;
- Có hai loại cán bao gồm cán thô và cán mịn trong đó cán thô để những cục đất to
được phá vỡ. Khoảng cách giữa hai quả lô cán cho phép cán đất thành mảnh dẹt
với chiều dày khoảng 5 - 10 mm. Cán mịn để phá vỡ những hạt nhỏ hơn và nếu
trong trường hợp tiêu chuẩn của phương Tây thì đất được cán tới chiều dày 0.7mm đảm bảo phá vỡ được cả các hạt sạn nhỏ tuy nhiên ở Việt Nam thì khoảng 2 - 3mm là phù hợp;
- Các máy cán thô và cán mịn thường được sắp xếp với việc xen giữa là một máy
nhào hai trục. 

Biện pháp tiết kiệm có thể:
- Quản lý tốt dòng nguyên liệu cấp vào máy bằng việc quản lý toàn bộ quy trình từ
lúc vào cấp liệu thùng để giảm bớt sỏi sạn cứng yêu cầu phải bị phá vỡ;
- Thường các máy cán được lắp đặt các động cơ với công suất dư tải để đảm bảo
cán qua được khi mắc phải những cục nguyên liệu chưa xử lý được. Việc đo đạc
công suất điện tiêu thụ sau một khoảng thời gian có thể xem xét lắp đặt các thiết
bị tiết kiệm điện kiểu Power boss theo đó thiết bị được lắp đặt sẽ tự động giảm
hiệu điện thế U ở đầu vào khi tải của máy ở mức thấp và qua đó tiết kiệm được
khoảng 10% điện năng tiêu thụ.

4. Máy  nhào hai trục

Nhiệm vụ:
- Đảo trộn đất than nhằm đồng nhất hóa nguyên liệu đất, có sự phối trộn đồng đều với
than nghiền;
- Máy có hai trục được gắn các con dao nhào nhằm đảo trộn nguyên liệu và khi ra khỏi
máy có thể rơi thẳng xuống băng tải than hoặc đi qua một lưới lọc có nhiệm vụ chặn
rác như rơm, cỏ, lá lẫn trong đất. Nó cũng loại bỏ những viên sỏi to ra khỏi đất và đùn.

Giải pháp tiết kiệm năng lượng có thể:
- Luôn kiểm tra tính hiệu quả của các dao nhào;
- Thường xuyên làm sạch các lưới lọc;
- Kiểm soát độ ẩm, độ tơi của nguyên liệu đầu vào. Nguyên liệu khô hơn và tơi hơn thì
yêu cầu mô men vận hành của thiết bị thấp hơn.

5.Máy nhào đùn hút chân không liên hợp
Nguyên lý làm việc và nhiệm vụ:
- Đất tơi, đủ độ ẩm được băng tải đưa vào máy trong đó có bộ phận nhào và đẩy đất về
phía buồng chân không. Tại buồng hút chân không, bơm hút chân không sẽ hút không
khí ra khỏi buồng để duy trì một áp suất âm nhất định trong buồng tạo điều kiện cho
không khí trong đất được hút ra. Đất sau đó rơi xuống khu vực đùn và được ép chặt
bằng trục vít qua nòng xi lanh và đầu khuôn ép hình thành một dòng liệu liên tục đi ra
khỏi mõm đùn có kích thước xác định bởi kích thước mõm đùn. Dòng liệu này sau đó
sẽ được cắt ra thành từng viên sản phẩm;
- Yêu cầu của máy là tạo ra dòng liệu sản phẩm được ép chặt có định hình đúng, kích
thước chuẩn, độ nhẵn bề mặt tốt phù hợp với yêu cầu chất lượng đặt ra để sau khi cắt
thì tạo thành viên gạch mộc có chất lượng tốt.

Các cơ hội tiết kiệm năng lượng và cải thiện chất lượng:
- Đảm bảo độ kín buồng hút chân không;
- Cân đối giữa nhu cầu hút chân không và chất lượng sản phẩm;
- Phun hơi nước tạo ẩm cho tại vị trí thích hợp trong quá trình đùn cho khả năng tạo ra
viên gạch mộc có nhiệt độ cao hơn. Điều này có tác dụng làm cho quá trình phơi sấy
được nhanh hơn hoặc tránh nứt khi muốn sấy nhanh sản phẩm. Đặc tính của loại hình
này là đòi hỏi quá trình đùn ép tạo ra lực ép mạnh hơn do đó đòi hỏi tiêu thụ điện cho
khâu đùn ép lớn hơn.

6. Máy cắt gạch tự động
Chức năng nhiệm vụ:
- Máy đặt ngay trước miệng đầu  đùn của máy nhào đùn hút chân không liên hợp để tiếp nhận òng liệu ra từ máy đùn để tự động cắt gạch ra từng viên có kích thước chính xác theo
tiêu chuẩn;
- Máy được điều chỉnh tự động để cắt phù hợp với công suất của máy nhào đùn.
Các cơ hội tiết kiệm năng lượng và cải thiện chất lượng:
- Điều chỉnh để quá trình cắt chính xác không bị thừa hoặc thừa rất ít đầu mẩu;
- Tối ưu hóa vận hành máy nén khí sử dụng khí nén làm động lực cho quá trình cắt gạch.

7. Máy nghiền than
Chức năng nhiệm vụ:
- Nghiền than thành cỡ hạt nhỏ hơn tạo điều kiện tốt cho việc phối trộn đồng đều than,
đất trong quá trình tạo hình gạch mộc;
- Than nghiền mịn khi cấp vào lò từ nóc lò cho quá trình cháy cũng giúp cho việc bắt
cháy nhanh hơn, cháy kiệt hơn;
- Nhìn chung không có tiềm năng tiết kiệm năng lượng đáng kể nào từ máy nghiền
than.

Read more…

Quy trình sản xuât gạch tuynel công nghệ bán khô xếp trực tiếp lên goong

18:50 |
Quy trình sản xuât gạch tuynel công nghệ bán khô xếp trực tiếp lên goong

Đất nguyên liệu: được mua hoặc khai thác tại chỗ được vận chuyển đến bãi chứa đất thường có khả năng dự trữ nguyên liệu 6 tháng đến 1 năm hoạt động của nhà máy. Nguyên liệu được để ngoài trời và nên được tưới nước, đảo trộn để đảm bảo quá trình phong hóa đất. Đất được phong hóa vận chuyển dần vào kho chứa đất trong nhà có mái che. Đất này nên là đất tương đối khô để quá trình xử lý nguyên liệu được nhẹ nhàng. Kho chứa đất trong nhà nên có khả năng dự trữ cho hoạt động đủ công suất nhà máy trong 7 ngày. Đất trong nhà với độ ẩm thấp sau đó được cấp vào máy cấp liệu thùng. Ở đây, đất nguyên liệu được cấp vào bằng máy xúc và rơi qua lưới lọc sơ với mắt lưới khoảng 200 x 200mm để vào máy cấp liệu thùng. Trong máy cấp liệu thùng, đất được cào tơi và được băng tải xích chuyển xuống băng tải cao su phía dưới với dòng liệu cấp đều đặn đảm bảo cho tỉ lệ trộn than, đất được đồng đều không bị chỗ nhiều chỗ ít.




Than nguyên liệu:  được mua và vận chuyển về kho than thường là than cám với cỡ hạt còn thô sau đó đi qua máy nghiền búa để có nhiên liệu than mịn rồi cấp vào phễu cấp than đặt cạnh băng tải ất. Than từ phễu được cấp tới băng tải than và rót vào băng tải đất theo một tỉ lệ nhất định được điều chỉnh thông qua tấm chắn hoặc thông qua một máy cấp than kiểu ruột gà.

Hỗn hợp than và đất: sau đó được đưa tới máy cán thô bằng băng tải. Ở đây, đất cục lớn đượccán mỏng xuống với chiều dày cán khoảng 5 – 10mm và sau đó lại rơi xuống băng tải khác để đưa tới máy nhào hai trục. Tại máy nhào hai trục đất, than được trộn đều và rơi xuống băng tải than để cấp cho máy cán mịn. Tại đây, đất được cán một lần nữa qua máy cán mịn với khe hở giữa hai lô cán mỏng hơn trước chỉ còn 2-3mm. Với tiêu chuẩn châu Âu thì khe hở này chỉ là 0,7mm để giúp phá vỡ kết cấu đất hoặc làm mịn các viên sạn nhỏ vốn là nguyên nhân gây ra các vết nứt bề mặt viên gạch.




Sau máy cán mịn, nguyên liệu đất sau đó được đưa vào máy nhào lọc có lưới lọc. Tại đây, hệ thống phun nước tạo ẩm sẽ phun một lượng nước vừa phải tạo ẩm cho đất để tăng tính dẻo của đất lên và đùn qua lưới lọc với mắt lưới 50 x 50mm. Tại lưới lọc này, cỏ rác sẽ bị cản lại và tách ra khỏi dòng đất nguyên liệu rơi xuống băng tải than để đưa ra máy nhào đùn hút chân không liên hợp. Trong máy nhào, đùn hút chân không liên hợp này, nguyên liệu được đảo trộn và rơi vào buồng chân không có kết nối với cơ cấu đùn. Tại buồng hút chân không, bơm chân không sẽ hút không khí trong đó ra giúp giảm thiểu các bọt khí có thể còn tồn tại trong đất để giúp khâu đùn sẽ ép đất được chặt hơn. Trong khâu đùn ép, đất được ép trong xi lanh bằng một trục vít xoắn ruột gà và đùn ra ngoài qua đầu đùn được thiết kế định hình theo kích thước viên gạch. Khi ra khỏi đầu đùn băng tải sẽ đưa sản phẩm đùn tới máy cắt tự động để cắt thành từng viên gạch với kích thước xác định và đưa tới băng tải để có thể bốc ra ngoài đem ra sân phơi.

Sân phơi thường dùng là sân phơi có mái che được dùng để phơi gạch đến khi độ ẩm còn 8- 10% thì gạch mộc được bốc lên xe gòong để đưa vào hầm sấy. Trong trường hợp dây chuyền đùn ép là dây chuyền đùn ép đất có độ khô cao thì gạch có thể bốc thẳng lên xe gòong và sau đó đưa vào hầm sấy Tuynel sau khoảng 1 ngày để khô và giãn nở tự nhiên trong sân có mái che.

Gạch mộc trên xe gòong sau khi qua hầm sấy thì gần như khô kiệt với độ khô chỉ còn 1-2% và nhiệt độ gạch mộc sau hầm sấy khoảng hơn 100oC. Xe gòong sau đó được đi tới xe phà chuyển ngay sang lò nung tuynel đặt song song với lò sấy tuynel để bắt đầu quá trình nung.

Xe gòong đi trong lò nung Tuynel từ đầu này sang đầu kia để thực hiện quá trình nung đốt. Trong quá trình nung, gạch mộc được nâng dần nhiệt độ lên đến nhiệt độ kết khối và sau đó hạ dần nhiệt độ rồi đi ra ngoài để trở thành gạch chín thành phẩm. Gạch trên xe gòong được bốc dỡ và phân loại sẵn sàng cho việc bán một cách thuận lợi.

Read more…

Yêu cầu kỹ thuật cho nguyên liệu trong sản xuất gạch tuynel để có gạch thành đạt chất lượng cao

19:56 |
Thành phần hóa học của đất sét và các ảnh hưởng tới chất lượng trong quá trình sản xuất gạch tuynel và các công đoạn sấy nung lò nung gạch trần phẳng



Đây là một đặc trưng quan trọng của đất sét có tính quyết định cao trong việc sử dụng đất sétđể sản xuất các loại sản phẩm xác định. Thành phần hóa học của đất sét sản xuất gạch bao gồm các loại oxyt như SiO2, Al2O3, Fe2O3, MgO, TiO2, Na2O, K2O....

1. Oxit silic (SiO2) Có mặt trong đất sét dưới dạng liên kết trong thành phần của các khoáng hình thành đất sét và dạng tự do như cát Quắc. Hàm lượng lớn oxyt silic tự do cho thấy trong nguyên liệu sét có chứa một lượng lớn cát, làm tăng độ xốp của xương và làm giảm độ bền cơ học của sản phẩm thường thấy ở các loại đất phù sa. Đất nhiều Silic có độ dẻo kém, khó tạo hình gạch mộc tuy nhiên nó có khả năng thoát ẩm tốt do đó hạn chế được tình trạng nứt, vỡ do thoát ẩm quá nhanh. Hàm lượng chung của SiO2 trong đất sét chiếm khoảng 55 – 65% còn trong đất sét pha cát có thể đạt 80 – 85%.

Hiện tại các chủ lò gạch tuynel bổ xung thêm lượng cát vào nguyên liệu sản xuất gạch, Quý khách có thể tham khảo thêm thiết bị đầu đùn gạch công nghệ hiện đại nhất hiện nay có ưu điểm vượt trội so với thế hệ đầu đùn công nghệ cũ, việc đầu tư thêm thiết bị để cải tạo lại dây chuyền sản xuất giảm chi phí trong quá trình sản xuất gạch tuynel bằng công nghệ bán khô dùng nguyên liệu hoàn toàn từ đất đồi (>>> tham khảo máy nghiền đất đồi)
(>>> Tham khảo hệ thống robot xếp gạch tự động)



Hệ thống robot xếp gạch tự động

2. Oxyt nhôm (Al2O3): ở trong đất sét dưới dạng liên kết (tham gia trong thành phần của các khoáng hình thành đất sét và tạp chất mica). Đây là oxyt khó nóng chảy nên đất sét có hàm lượng oxyt nhôm cao đòi hỏi có nhiệt độ nung cao hơn tuy nhiên nó có khoảng nhiệt độ kết khối rộng hơn nên quá trình nung dễ dàng do nó làm giảm khả năng biến dạng của sản phẩm. Khi hàm lượng oxyt nhôm thấp, cường độ sản phẩm sẽ giảm. Đất sét để sản xuất các sản phẩm mỏng cần có hàm lượng oxyt nhôm cao hơn. Thường hàm lượng oxyt nhôm nằm trong khoảng 13 - 20% và SiO2 trong khoảng 50 - 75% thì phù hợp cho sản xuất các sản phẩm mỏng. Khi hàm lượng oxyt nhôm thấp thì việc gia công mộc cần cẩn thận hơn. Hàm lượng oxyt nhôm trong gạch dao động từ 10 - 15% còn trong đất sét chịu lửa loại tốt thì hàm lượng oxyt nhôm có thể là 32 -35% . Hàm lượng oxyt nhôm rất quan trọng để tạo độ liên kết giữa các hạt trao đổi ion, và thành phần keo trong quá trình hóa lý ủ nguyên liệu.

3. Oxyt canxi (CaO) và các sunfat (CaSO4) tham gia vào thành phần của các vật liệu sét dưới dạng đá vôi (CaCO3) và đá đolomit và các khoáng khác. Khi ở trạng thái phân tán mịn và phân bố đồng đều trong đất sét, oxit canxi làm giảm khả năng liên kết và hạ thấp nhiệt độ nóng chảy của đất sét. Khi nung ở nhiệt độ cao oxyt canxi phản ứng cùng với oxyt nhôm và ôxyt silic làm giảm nhiệt độ nóng chảy của đất sét và làm giảm khoảng nhiệt độ nung gây khó khăn cho quá trình nung sản phẩm do khả năng bị biến dạng. Để làm tăng khỏa nhiệt độ nóng chảy, người ta có thể cho thêm phụ gia cát thạch anh vào. 

Đá vôi tạo ra màu vàng khi nung. Đất sét màu vàng khi nung thường chứa 17-24% lượng của  cacbonat canxi, tương đương với 10 - 14% lượng oxit canxi. Các màu sắc của gạch nung phụ thuộc vào tỷ lệ canxi và sắt.

Canxi bị phân hủy ở Nhiệt độ 600 - 900°C khi carbon dioxide được tách ra và hình thành oxit canxi phản ứng với các khoáng sét khác. Nếu gia nhiệt qua vùng 600 -900°C quá nhanh, những viên gạch có thể bị nứt (vết nứt vôi tách). Khi các hạt canxit (canxi) trong đá thô lớn hơn 0,25 mm, canxi oxit có thể không phản ứng với các khoáng chất đất sét. Sau khi nung, các hạt canxit có thể phản ứng với hơi nước như dạng vôi tôi và giãn nở mạnh sau đó. Trường hợp các hạt canxi rất gần với bề mặt gạch, vôi tôi giãn nở nhanh tại bề mặt gạch gây nổ tách. Hàm lượng vôi cao trong đất sét nguyên liệu thường dẫn đến một khoảng thiêu kết rất hẹp khoảng 1000 - 1050°C; thậm chí một sự gia tăng nhỏ trong nhiệt độ có thể dẫn đến chảy gạch. Do sự phân hủy canxit, gạch vàng thường có mật độ thấp hơn và hấp thụ nước mạnh hơn so với gạch đỏ.

4. Oxyt Magie (MgO): Có tác dụng tương tự CaO nhưng ảnh hưởng ít hơn đến khoảng kết khối của đất sét 

Các oxyt kim loại kiềm (Na2O và K2O): Có khả năng làm tăng độ co ngót, giảm nhiệt độ tạo pha lỏng nóng chảy, làm đặc chắc xương sản phẩm và tăng độ bền cho nó. Các oxyt kiềm này tham gia trong thành phần của một số khoáng tạo thành đất sét nhưng trong đa số trường hợp chúng có mặt trong tạp chất ở dạng muối hòa tan và cát fenspat. Sự có mặt trong nguyên liệu sét muối hòa tan sunfat và các muối clorua Natri, Magie, Canxi sẽ gây ra sự bạc mầu (các vết trắng) trên bề mặt sản phẩm.

Tương tự như vậy, có một mối tương quan giữa tỷ lệ pha thủy tinh và độ nung (cho dù gạch bị cháy mạnh). Đối với một loại hình cụ thể của đất sét, cùng một mức độ cháy có thể thu được bằng cách nung ở nhiệt độ cao trong một thời gian ngắn (ví dụ, 1070°C trong 2 giờ) hoặc ở nhiệt độ thấp trong một thời gian dài hơn (ví dụ, 1040°C trong 10 giờ). Điều này là do tỷ trọng của pha thủy tinh hình thành trong quá trình nung sẽ tương tự như trong hai ví dụ.

Do đó ta có thể bù đắp cho một thời gian nung ngắn hơn bằng cách tăng nhiệt độ tối đa.
Các oxyt sắt thường gặp trong đất sét ở dạng các hợp chất oxyt, oxyt thấp, oxyt hỗn tạp có
khả năng làm giảm khoảng nhiệt độ kết khối cuả đất sét, làm giảm khoảng nóng chảy của đất sét. Khi hàm lượng oxit sắt và hydroxit sắt trong khoảng 4 - 8%, sản phẩm nung có màu đỏ đậm do sự hình thành của hematit với điều kiện là không có vôi có trong đất sét nguyên liệu. 

Màu sắc Hematit phụ thuộc rất nhiều vào nhiệt độ. Tại 800 - 900°C, màu sắc là màu cam; ở nhiệt độ cao, màu sắc chuyển mạnh hơn sang màu đỏ. Trong điều kiện thiếu không khí (thiếu oxy), các khoáng chất magnesit và wustite được hình thành thay vì hematit, cả hai đều chuyển thành màu đen. Nếu quá trình nung dạng oxy hóa được tuân thủ, cả hai loại khoáng sẽ chuyển biến thành hematit đỏ.

5. Oxyt titan (TiO2) tham gia vào trong thành phần sét dưới dạng các tạp chất, hàm lượng của nó không quá 5%. Oxyt titan cho xương màu sắc xanh. Tác dụng cường độ nhuộm màu của TiO2 vào khoảng 2/3 cường độ nhuộm màu của Fe2O3.

6. Các thành phần khác : Độ chứa muối của đất sét nguyên liệu:

Nếu đất sét nguyên liệu chứa sulphate, và đây không phải là trung hòa với bari cacbonat hoặc bari clorua, những viên gạch nung cũng sẽ chứa sunphat, số lượng lớn natri sulfat làm tăng nguy cơ nứt vỡ bề mặt 

Độ muối thường giảm trong quá trình nung vì sunphat được chia thành các oxit lưu huỳnh và oxit kim loại. Oxit kim loại được hấp thụ trong pha thủy tinh, trong khi oxit lưu huỳnh được thải qua ống khói. Như vậy, cả pyrit (xem ở trên) và sunphat trong đất sét nguyên liệu góp phần vào việc tạo ra các oxit lưu huỳnh (sulfur dioxide và sulfur triôxít) từ gạch. 

Ngoài oxit lưu huỳnh, một số khoáng chất cũng chứa một lượng nhỏ flo. Một phần của flo này được thoát ra trong quá trình đốt cháy và thải ra cùng với khí thải

Xét cho cùng, đối với những việc sử dụng nguyên liệu đầu vào là đất đồi, đầu đùn  phải rất tốt và hệ thống ủ nguyên liệu phải đồng bộ, cùng việc đầu tư hệ thống robot gắp gạch mộc trực tiếp lên goong. Cùng lò sấy nung gạch bằng công nghệ lò nung trần phẳng hiện đại nhất.


Read more…

Robot xếp hàng hóa

Robot gắp hàng hóa

Máy xếp hàng tự động

Máy đóng bao tự động

Máy đóng bao tự động

Google+ Badge

Robot gắp hàng hóa

Máy đóng bao xếp hàng tự động

Máy xếp bao lên pallet


Công Ty TNHH Thiết Bị Máy Công Nghiệp và Xây Dựng Tân Phú

Văn Phòng Hà Nội:P 602, tầng 6, Sky City Tower A, 88 Láng Hạ, P. Láng Hạ, Q. Đống Đa, TP. Hà Nội

Tư Vấn : 0912.628.539


Email: maygachtanphu@gmail.com
Công nghệ bán khô sản xuất gạch tuynel thiết bị lò gạch robot gắp gạch robot bốc hàng robot xếp hàng đóng thùng! Convert by Công nghệ bán khô sản xuất gạch tuynel thiết bị lò gạch robot gắp gạch robot bốc hàng robot xếp hàng đóng thùng! Template Convert.